Thứ Ba, 20 tháng 11, 2012

Robertino Loretti - Nhớ về một giọng ca không tuổi...











"... Mamma, solo per te la mia canzone vola!
Mamma, sarai con me, tu non sarai piu sola..." (Mamma)

(Tạm dịch: Mẹ ơi, bài hát này con dành riêng cho mẹ
Mẹ ơi, có con bên cạnh, mẹ sẽ chẳng bao giờ cô đơn...)
Lời hát vút cao, như bay lên mê mải, như khắc khoải nhớ thương... mà vô cùng trong sáng của cậu bé 13 tuổi Robertino Loretti trong nhạc phẩm Ý "Mamma" (Người mẹ) của C.A. Bixio, đã làm mê đắm biết bao nhiêu trái tim Việt Nam của những năm tháng gian khó thuộc thập niên 60 và 70 thế kỷ trước...
Ngày nay, đã gần 50 năm trôi qua, người ta cũng đã thay đổi nhiều thói quen âm nhạc ,cũng trong ngần ấy thời gian chúng ta cũng đuợc biết đến rất nhiều ca sĩ nổi tiếng mới, nhưng Robertino vẫn được mọi người nhớ mãi như một ánh hào quang rực rỡ, những kỷ niệm không thể nào quên về giọng hát thần đồng của một cậu bé người Ý đã làm rung động hàng triệu con tim .
rob.jpgRobertino Loretti chào đời tại Roma ngày 22-10-1947 trong một gia đình nghèo khó, cha mẹ có cả thảy 9 người con. Năm cậu lên 10 tuổi, do cha bị ốm và không thể kiếm tiền nuôi gia đình, cậu bé đã phải bươn chải với nhiều nghề, lúc thì phụ trong một lò bánh mỳ, khi thì ở một tiệm cà phê. Sở hữu giọng hát trong trẻo và hồn nhiên trời phú, cộng với lòng say mê có thể hát ở bất cứ nơi nào, dù là đang làm việc vất vả, chẳng bao lâu, cậu bé Robertino đã được mọi người xung quanh để mắt tới. Một bận, một nhà hàng nọ, khi tổ chức lễ cưới, đã kéo cậu tới hát và giọng ca, cũng như phong cách biểu diễn trẻ trung và thuyết phục của cậu bé hơn 10 tuổi đã chinh phục được mọi khách mời. Tiếng lành đồn xa rất nhanh, từ đó, hễ cứ có đám cưới trong vùng là Robertino Loretti lại được mời đi hát tại nhiều tiệm cà phê, nhà hàng. Những bài "tủ" của cậu thường là dân ca Ý với làn điệu da diết, ngọt ngào. Giấc mơ của Robertino thuở ấu thời - được đến trường học nhạc "bài bản" - đã không bao giờ trở thành hiện thực do hoàn cảnh gia đình chật vật, tuy nhiên, bù lại, cậu bé thần đồng có được kỹ năng trình diễn và khả năng giao tiếp ngay từ những ngày đầu, tại các hàng quán, trước đủ các giai tầng khán thính giả sang, hèn. Giọng hát của Robertino trẻ trung mà vô cùng điêu luyện.
Năm 1960. Robertino Loretti thường hát ở tiệm cà phê Grand Italia, thu hút được sự chú ý của không ít người, trong đó có cả khách ngoại quốc hiếu kỳ, khi đó bắt đầu đổ về Roma trước ngày hội Olympic tổ chức ở đây. Trong số đó, có ông bầu Volmer Sorensen, một gương mặt nổi tiếng của truyền thông Đan Mạch, khi đó đang làm việc cho Đài phát thanh xứ này. Nghỉ hè tại Roma cùng vợ là nữ ca sĩ Grethe Sunck, hai người đã phát hiện ra tài năng thiên bẩm - và cả khả năng tài chính - trong giọng ca của cậu bé chưa đầy 13 tuổi và lập tức, họ đã ký một hợp đồng với cậu bé. Robertino Loretti sang Đan Mạch và không phải chờ đợi lâu, được xuất hiện trong chương trình truyền hình "Tv in Tivoli"; với chất giọng truyền cảm, trẻ trung và thanh mảnh, cậu đã lập tức chinh phục được khán giả Đan Mạch. Rồi Robertino đã tiến xa hơn và nhanh chóng trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng. Đĩa hát mang tên cậu có mặt ở khắp nơi (kể cả Việt Nam ngày ấy). Những hợp đồng biểu diễn, ghi âm, quay phim, chụp ảnh cùng những lời tán tụng về cậu - một ca sĩ tuyệt vời người Ý bay đi khắp thế giới.
Chỉ trong vòng vài tháng ngắn ngủi, cả thế giới đã biết đến cái tên của cậu bé thần đồng Robertino Loretti. Những hợp đồng biểu diễn, thu băng đĩa, phim ảnh... đến với cậu như mưa. Chớp nhoáng, cậu đã có hàng loạt chuyến lưu diễn tại Phần Lan, Thụy Điển, Iceland, Bỉ, Đức, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Áo. Rất nhanh chóng, Robertino trở thành một "công dân thế giới" theo cả hai nghĩa đen và bóng của từ này: cậu chỉ còn có thời gian về thăm quê hương trong những ngày nghỉ và lễ hội dân tộc, giữa hai chuyến công diễn. Giới phê bình gọi Robertino là một "Caruso mới của nước Ý"; trong các buổi diễn, cậu hiện diện cùng những tên tuổi đương thời như Nana Mouskouri, Josephine Baker, Pat Boone và Marlene Dietrich. Có những bận, 50.000 khán thính giả đã tập trung nghe cậu hát.
Robertino không chỉ hạn chế những thành công của cậu tại trời Âu. Trong sự nghiệp ca hát hết sức ngắn ngủi của mình, cậu còn kịp chinh phục những mảnh đất xa xôi như Hoa Kỳ, Canada, Úc, Nhật và Liên Xô. Đặc biệt, Robertino là một trong vài ngôi sao phương Tây vô cùng hiếm hoi có dịp công diễn tại Liên Xô và trở thành ca sĩ ngoại quốc được ưa chuộng nhất của mọi thời đại ở xứ sở cộng sản này. Nữ du hành gia Nga Valentina Tereshkova, người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ, cũng đã yêu cầu được nghe Robertino Loretti trong chuyến đi lịch sử ngày 16-6-1963 trên con tàu Vostok 6.
Thu đĩa hát đầu tiên năm 1960 và thực sự chỉ còn tỏa sáng trên tư cách một thần đồng nhí" thêm 1 năm nữa, với những ca khúc đã trở thành kinh điển như "Mặt trời của tôi", "Mẹ", "Trở về Surriento", Santa Lucia", "La Paloma", "Ave Maria"..., có lúc Robertino được cho là còn nổi tiếng hơn cả Vua nhạc Rock Elvis Presley! Chính Elvis, thời gian này, cũng hát lại (cover) bản tiếng Anh của ít nhất 1 ca khúc đã nổi tiếng dưới sự trình diễn của cậu bé người Ý.
Năm 1961 đến với Robertino Loretti như một thời khắc định mệnh. Đi biểu diễn không ngừng, hát hết sức lực, kiếm được nhiều tiền hơn bao giờ hết, nhưng bước vào tuổi 14, giọng hát tenor trong trẻo, dễ thương của cậu đã vĩnh viễn mất đi. Do biểu diễn quá sức, Robertino bị mất giọng. Cậu bị mổ và phải trở về nước. Cảm thông với người nghệ sĩ đã sang tuổi trưởng thành, chấp nhận chất giọng baritone của Robertino trong những năm tháng sau đó, nhưng đối với đại đa số người hâm mộ, cậu bé thần đồng đã không còn nữa! Vẫn hát và hát không ngừng; đến nay đã bán được gần 60 triệu đĩa, một con số đáng nể; còn được mời công diễn tại Nga và Trung Quốc khi đã ở độ tuổi "lục tuần"; nhưng thực sự, ngày nay, rất ít ai còn biết Robertino ra sao, làm gì và ở đâu. Cho dù, ông vẫn sống âm thầm tại Roma, là láng giềng của hai tài tử điện ảnh lừng danh Sophia Loren và Marcello Mastroianni và là chủ của nhiều nhà hàng, quán bar và câu lạc bộ... - nhưng, vinh quang thực sự của ông đã chấm dứt cách đây gần 50 năm.

1177745688_nv.jpg
Robertino Loretti tại nước Nga năm 2005: Mặc dù giọng ca vàng đã vĩnh viễn mất đi từ nhiều năm trước, nhưng tình cảm của người hâm mộ vẫn còn nguyên đó.
Những chiếc đĩa hát nhựa của Robertino cũng đã có mặt ở nước ta ngay từ những năm sáu mươi. Đó là đĩa do các lưu học sinh Việt Nam sang Liên Xô và các nước Đông Âu học mang về cùng với các loại "radio quay đĩa" hiệu Rigonda hay Melodia (tại miền Bắc). Nhiều người yêu mến giọng hát tenor trong trẻo, khoẻ khoắn nhưng lại pha một chút mảnh mai dễ thương của cậu bé 13 tuổi ấy đến độ bây giờ khi tìm lại trong kí ức còn tự coi mình là thế hệ "Robertino". Sau Robertino, không ít ca sĩ nổi danh đã ca lại những bài thủơ ấy, với trình độ xử lý kỹ thuật có thể còn hoàn hảo hơn nhiều cậu bé tự học ở tuổi 13-14 thuở nào; ấy vậy mà khi nghe lại, ít ai khỏi cảm giác bùi ngùi trước một giọng hát hết sức trong sáng, mong manh và ngơ ngác trước cuộc đời của Robertino Loretti.
Ngày nay, tên tuổi của Robertino ít được biết đến hơn xưa ngay cả trên quê hương Italia, nhưng hình ảnh và giọng hát của anh mỗi khi được nhắc đến lại là một kỉ niệm hết sức tuyệt vời về một thần đồng ca hát đã làm xao động bao trái tim giới yêu nghệ thuật toàn thế giới!
Robertino Loretti trong trái tim của hàng triệu người yêu nhạc - giọng hát một thời và mãi mãi!


Mời các bạn xem, nghe thêm các bài hát do Robertino hát tại đây: http://www.youtube.com/channel/HCu-69JjMKP5k?feature=relchannel



Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

Huyền thoại rượu






Ai trên đời mà chẳng sợ, chẳng sợ mẹ thì sợ ba, hồi còn bé ngán Ma, vô Bách Khoa thì sợ nợ, nhưng mà ta không sợ, nợ nhiều thì bùng luôn.
- Khi vô trường là phải học, mà đã học là phải thi, Bộ quy chế mới ra, "thi lần ba mà chẳng được", thi lần tư cũng chẳng sợ, đuổi học thì về quê.
- Khi ra trường là bỏ rượu, mà bỏ rượu là tợp bia, mình chỉ uống bia hơi, ai thảnh thơi mà tợp rượu, ta kĩ sư tiền triệu, phải bỏ rượu, tợp bia.
- Bia bao giờ chẳng có bọt, chẳng có bọt chẳng phải bia, và từ rất xưa kia, bia mà ngon là nhờ bọt, không phải chua, không phải ngọt, càng nhiều bọt càng ngon.
- Hôm nay ngồi mà nhớ lại, cuộc tình đầu ngày xưa, tình thì rất đắm say, em lại đi lấy chồng, để mình anh chờ đợi, em làm tội đời anh.
- Đêm chong đèn ngồi nhớ rượu, buộc hai cẳng phải đi, dù vợ có mắng ta, ta phải đi bằng được, ai làm chi cũng mặc, vợ không thể cản ta.
- Vui hay buồn mình cũng nhậu, mà đã nhậu là phải say. Rượu mà uống **** say, **** thấy hay của rượu, ai làm chi ta cũng mặc, vì đã nhậu là phải say.
- Đi mua rượu về mới nhậu, vợ cũng nhậu cùng ta, vợ cầm bát ném ta, ta cầm chai đập lại, sau trận chiến tơi bời, vợ gục dưới chân ta.
- Vợ trên đầu, vợ trên cổ, vợ làm khổ đời ta, vợ ngoan ngoãn ta thương, vợ đành hanh ta nện, có gì đâu mà sợ, vợ là vợ của ta.
- Ai trên đời chẳng lấy vợ, vợ là nợ đời ta. Thà rằng cứ như ta, ta thà ly dị vợ, để từng đêm đi nhậu, chẳng sợ vợ rầy la.
- Đêm chong đèn ngồi đếm bạc, tờ năm chục màu xanh, mẹ cầm súng đứng canh, con cầm dao ngồi cạnh, đừa nào vô thì khó chạy, mẹ là mẹ của ta.
- Ba bao giờ mà vằng mẹ thì ăn phở trừ cơm, hoặc là uống bia ôm, hay là vô sàn nhẩy, có gì đâu mà ngại, mẹ là vợ của ba

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

Lợi hại lấy chồng già




24 Lý do để lấy chồng già
1. Chồng già nhìn rất giống ông già. Do đó mình sẽ không bị mang tiếng là bỏ nhà theo... trai.
2. Người già quen nhiều nên đông khách. Khách tới nhà nếu mình ra mở cửa hay hỏi: “Bố cháu có nhà không?” khiến ta có cảm giác lâng lâng rất sung sướng.
3. Chồng già luôn đi chậm, nên nếu chở vợ bằng xe máy, tai nạn giao thông rất ít xảy ra. Nếu có xảy ra, cảnh sát thường nghĩ lẽ phải về chồng mình.
4. Chồng già mắt kém, nên nếu ta có đi với bồ, chồng nhìn thấy thì vợ sẽ cãi: “Anh nhìn nhầm rồi” và chồng già vội vã tin ngay.
5. Chồng già răng yếu nên nhai lâu. Nhai lâu nên ăn chậm. Ta lợi dụng ra luật lệ: “Ai ăn sau phải rửa chén nha,” thế là ta thoát.
6. Chồng già hay ho. Khi nghe tiếng ho, ta biết mùa đông đã về, khỏi phải xem dự báo thời tiết.
7. Chồng trẻ nhìn thấy một cô gái trẻ thường hỏi: “Em nào đấy?.” Còn chồng già nhìn thấy gái trẻ thường hỏi: “Con nhà ai đấy?” khiến ta rất yên tâm.
8. Chồng trẻ đi đường hay để vợ nắm tay mình. Còn chồng già lại nắm tay vợ.
9. Chồng già hay bàn tới tương lai. Còn chồng trẻ thường bảo: “Không biết tương lai ra sao?”
10. Chồng trẻ hay nhìn vợ rồi thở dài. Còn chồng già hay nhìn bản thân mình rồi thở dài.
11. Chồng già hay hỏi thăm ba má vợ. Còn chồng trẻ hay hỏi về bạn bè vợ, nhất là bạn gái.
12. Khi cãi nhau, chồng trẻ gào lên: “Tôi lấy cô là một sai lầm.” Trong khi chồng già nói: “Tôi biết sai lầm nhưng vẫn lấy em.” 
13. Khi ra tòa ly dị, chồng trẻ nói: “Chúng tôi không hợp nhau,” còn chồng già nói: “Chúng tôi cũng chả biết không hợp ở chỗ nào.” 
14. Khi vợ có bồ, chồng trẻ nói: “Cô làm cho tôi ngạc nhiên,” còn chồng già nói:“Em làm cho anh tan nát.”
15. Cứ tới cuối tuần, chồng trẻ nói: “Mình đi chơi,” còn chồng già nói: “M
ình đi nghỉ.”
16. Khi đang ăn bị hóc xương, chồng trẻ càu nhàu: “Bỏ cái gì vào mồm cũng phải nhìn chứ,” còn chồng già nói: “Sao em không đưa miếng đó cho anh?.”
17. Gặp một cô gái bốc lửa mặc áo tắm, chồng trẻ nhìn cô ta, còn chồng già nhìn sang vợ.
18. Khi mua đồ tặng vợ, chồng trẻ nhìn túi tiền, còn chồng già nhìn xem đứa khác đã mua chưa.
19. Khi đi xa, chồng trẻ gọi điện thoại về hỏi: “Nhà có chuyện gì không?” còn chồng già hỏi: “Em có chuyện gì không?”
20. Khi nhà hàng xóm nhảy nhót điên cuồng, chồng trẻ mở cửa ra nhìn, nói: “Vui nhỉ,” còn chồng già đóng cửa lại, lẩm bẩm: “Chúng nó làm gì mà ầm ĩ thế?”
21. Chồng trẻ hay tiếc những đồng tiền đã tiêu, còn chồng già hay tiếc những đồng tiền không tiêu.
22. Chồng trẻ khi đi tắm hay sai: “Em lấy cho anh cái khăn,” còn chồng già luôn kiểm tra có khăn rồi mới chui vô phòng tắm.
23. Chồng trẻ hay nói: “Vui chung,” còn chồng già tuyên bố: “Em vui là anh vui.”
24. Chồng trẻ hay nhăn nhó: “Tôi mệt quá,” còn chồng già hô: “Anh chả bao giờ mệt cả.”

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Vui một tí: Lợi hại của lấy vợ già





1. Lấy vợ rất già ưu điểm đầu tiên là có khả năng... vắng hoàn toàn mẹ vợ.
2. Lấy vợ già không cần phải nhớ ngày sinh nhật vợ. Có nhớ cũng chả cần tặng hoa.
3. Vợ già không cần tặng gấu bông hay chó bông.
4. Vợ già gây sợ hãi cho mẹ chồng, không sợ mẹ chồng bắt nạt.
5. Vợ già hay ăn cháo nên việc rửa chén rất nhẹ nhàng.
6. Vợ già hay giàu nên không có cảnh gia đình xào xáo về tiền bạc.
7. Vợ già ít khi bỏ nhà theo trai. Càng ít khi bỏ nhà theo ông già.
8. Vợ già không hay nói câu: “Sống với nhau đến đầu bạc răng long” cho nên không bị sến.
9. Vợ già ít khi ăn mặc hở hang, vì vậy gia đình luôn đứng đắn.
10. Vợ già không có bạn bè tuổi teen, không sợ chúng nó rủ rê, lôi kéo.
11. Vợ già hay kể chuyện ngày xưa, giúp chồng có giấc ngủ êm đềm.
12. Vợ già không bắt ta dẫn đi xem phim hoạt hình.
13. Vợ già không bắt ta dẫn đi ăn kem vì đau răng.
14. Vợ già hay mua sắm cho ta chứ ta không phải mua sắm cho nàng.
15. Vợ già mong ta trẻ, trong khi vợ trẻ thích ta già.
Trên đây là những điều lợi, còn bây giờ là những cái hại của việc lấy vợ già.
1. Nếu vợ quá già, có thể bị nhầm là hai má con, thậm chí hai bà cháu.
2. Vợ già nhiều lúc cư xử mà không biết mình già, khiến ta mắc cỡ.
3. Vợ già hay bắt chồng đấm lưng.
4. Vợ già ghen với gái trẻ, ghen cả với gái già.
5. Vợ già hay thức khuya nên đôi khi nửa đêm ta giật mình ngồi dậy thấy vợ đang nhìn mình.
6. Nếu ta đánh vợ già, có thể bị con riêng của vợ hành hung.
7. Vợ già hay uống thuốc nên ta hay phải rót nước.
8. Đi chơi, vợ già hay ngồi nghỉ.
9. Vợ già hay đưa ta đi dự đám ma bạn bè, còn vợ trẻ được đi dự đám cưới.
10. Đi xe hơi cùng với vợ già, ta hay bị nhầm là tài xế.
11. Khi kêu vợ bằng “em” ta hơi sờ sợ.
12. Tốn nhiều tiền mua kem dưỡng da hoặc kem tan mỡ.
13. Mỗi khi có việc, chờ vợ trang điểm rất lâu.
14. Gặp vợ của bạn bè thường chạnh lòng.
15. Nghi ngờ tư cách bản thân! 

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Khoảnh khắc Hà Nội năm 1972


Những bức ảnh tư liệu phản ánh chân thực ngày tháng Hà Nội bị Mỹ dồn dập ném bom B52. Chỉ trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, Mỹ đã thả hàng chục nghìn tấn bom xuống một số tỉnh thành ở miền Bắc.

Tối 11/10, triển lãm ảnh "Hà Nội - những ngày đêm năm 1972" diễn ra tại Trung tâm Văn hoá Pháp (phố Tràng Tiền, Hà Nội). Triển lãm tái hiện những khoảnh khắc đáng nhớ nhất năm 1972, năm mấu chốt cho việc giải quyết cuộc xung đột Việt Nam - Mỹ với kết cục là việc ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973.
Nhưng chỉ 3 tháng trước Hiệp định Paris, ngày 11/10/1972, tòa nhà của Phái đoàn Chính phủ Cộng hoà Pháp tại Hà Nội bị ném bom.
Cầu Long Biên, tuyến đường huyết mạch nối Hà Nội với bờ bắc sông Hồng bị bom Mỹ phá huỷ nhiều đoạn.
Toàn bộ 6 khối phố ở Khâm Thiên hầu như bị xoá sạch trong đêm 26/12. Bom Mỹ đã giết chết 287 người trong đó có 40 cụ già và 55 em nhỏ. Nhiều gia đình không ai sống sót.
Quả bom rơi xuống tổng đài khiến mọi liên lạc bị gián đoạn, khu nhà ở đổ sập.
Năm 1972, bệnh viện Bạch Mai từng hứng chịu bốn đợt ném bom của không quân Mỹ vào các ngày 16, 18/4, 20 và 22/12. Hơn 100 quả bom trút xuống bệnh viện sáng 22/12 đã cướp đi sinh mạng của 28 nhân viên và làm 22 người khác bị thương.
Trong cuốn sổ ghi cảm tưởng tại triển lãm, ông Đỗ Doãn Đại, Giám đốc bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 1969 - 1982 viết: "Bạch Mai khi ấy làm nhiệm vụ cấp cứu cho cả vùng phía Nam và các tỉnh từ Hà Nam về Hà Nội, vì vậy Mỹ đã đánh bom bệnh viện không chỉ để để uy hiếp tinh thần cán bộ nhân viên mà còn cả người dân thủ đô".
Nhà ga, sân bay, cầu đường cũng là những mục tiêu ưu tiên ném bom của máy bay Mỹ. Ngày 21/12, ga Hàng Cỏ (ga Hà Nội hiện nay) bị đánh bom. Những quả bom điều khiển bằng laser đã trút xuống nhà ga và các phố lân cận như Lý Thường Kiệt, Trần Quý Cáp, Nguyễn Khuyến. Các khu lao động cũng phải hứng những trận mưa bom. Ngay đêm 18/12, đêm đầu của chiến dịch Linebacker 2, hơn 300 người đã thiệt mạng.
Ngõ Lý Thường Kiệt sau trận bom ngày 21/12.
Ngay sau những trận bom B52 cuối tháng 12/1972, Hà Nội huy động mọi phương tiện, tổ chức sơ tán cho hơn 500.000 người dân trong tổng số hơn 600.000 dân nội thành.
Trẻ em và người già hầu hết sơ tán về các vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội.
Cầu phao, cầu tạm luôn đảm bảo thông tuyến dưới mưa bom của không quân Mỹ.
"Pháo đài bay chiến lược" B52 xuất hiện lần đầu trong không quân Mỹ tháng 6/1955. Hơn 40 năm, B52 là con chủ bài của sức mạnh ném bom chiến lược Mỹ. Cánh của nó có hình mũi tên 35 độ, sải cánh 56,39 mét, bằng chiều rộng của một sân bóng. Khi không tải chiếc máy bay này nặng 73 tấn và có thể mang được 32 tấn bom. Ngày 18 - 29/12/1972, máy bay B52 đã thực hiện 729 phi vụ bay, ném 20.000 tấn bom xuống Hải Phòng, Hà Nội và các mục tiêu khác.
Thời điểm này, Hà Nội có hơn 400.000 hố cá nhân và 900.000 hầm tập thể, đủ cho 900.000 người trú bom. Mỗi người dân "sở hữu" ít nhất 3 hầm gồm trong nhà, trên cơ quan và ngoài đường phố.
Do quân đội Mỹ sử dụng loại bom bi gây sát thương cao nên mũ rơm...
... hoặc những con cúi bằng rơm cũng được bện chặt lại để bi sắt không thể xuyên qua.
Dù ăn ngủ cùng những trận bom bất ngờ nhưng người Hà Nội vẫn rất lạc quan. Người dân chuẩn bị ăn Tết năm 1972 trước trước thời điểm sơ tán.
Ba tuần sau đợt 12 ngày đêm B52 trải thảm, đám cưới của phóng viên ảnh TTXVN chỉ có kẹo, hoa đồng tiền và bánh mừng chiến thắng và chờ Hiệp định Paris.
Các lớp học ở ngoại thành năm 1972 vẫn diễn ra. Học sinh để sẵn mũ rơm trên bàn để sẵn sàng chạy mỗi khi máy bay Mỹ thả bom.
Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973. Cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, những người đóng vai trò quan trọng trong các cuộc đàm phán về Hiệp định Paris.
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trả lời báo chí tại Paris.
Nguồn: http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/10/khoanh-khac-ha-noi-bi-rai-bom-nam-1972/

Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2012

Khúc Hát Nàng Solveig





Khúc hát nàng Solveig. Đó là bài ca về lòng thủy chung, về niềm hi vọng đoàn tụ bất chấp sự nghiệt ngã của thời gian và không gian.

La Chanson de Solveig – Khúc hát nàng Solveig, một trong những bản nhạc cổ điển được ưa thích nhất trên toàn thế giới.
"Khi Chàng trai Peer Gynt phản bội mọi người, kể cả mẹ và người yêu - nàng Solveig. Peer gặp Solveig ba lần, chàng phải lòng cô gái ngay trong lần đầu và phải thốt lên: "Quỷ ma trong ký ức, quỷ ma trong đàn bà, trừ một người". Tuy nhiên, chàng vẫn rời bỏ thực tại và tình yêu để đi tìm thứ huyễn mộng. Lần thứ hai, Peer trở về, nghe nàng hát khúc chờ mong - mang tên "Khúc hát nàng Solveig" - nhưng rồi chàng vẫn lại bỏ đi, lần này không phải vì mộng phiêu lưu mà vì sợ trách nhiệm, sợ đối diện với chính bản thân mình. Lần thứ ba, sau khi hoàn toàn kiệt quệ, Peer trở về quỳ dưới chân người yêu xin tha thứ và được Solveig thứ tha, được yêu, được nghe bài ca thứ hai do nàng ca, cũng vẫn mang tên "Khúc hát nàng Solveig".

Hình như câu chuyện ấy, tình yêu người con gái ấy hình chung như tiếng nói của biết bao trái tim người phụ nữ trong nỗi lòng chờ đợi người yêu mình ra đi chưa trở về. Giai điệu sâu lắng, chậm rãi chợt bâng khuâng khi ai đó đã quên đi kỷ niệm ngọt ngào và vô tình trước tiềm thức gọi tên. Có thể sẽ chẳng mấy ai đón nhận được một kết thúc có hậu như câu chuyện tình kia. Nhưng tình yêu vẫn ẩn chứa những phép nhiệm màu và biết vị tha cho những tâm hồn lạc lối.

Hẳn khi tiếng gọi tình yêu cất lên , không gian và thời gian như cũng muốn im lặng cúi đầu để lắng nghe điều sâu thẳm thiêng liêng ấy

Mùa đông dù trôi qua
Như bóng dáng xuân tươi phai dần
Và lá trút không vương trên cành

Dù cho bao năm tháng ấy
Mang ánh nắng đông qua xuân về
Mang nỗi nhớ anh đi chưa về

Ngàn trùng dù có cách xa
Anh sẽ về … anh sẽ về
Lòng em luôn luôn hằng nhớ

Một mùa đông giá buốt đang hiện hữu, thời gian cứ theo nhau đi qua nhưng chẳng khác được khi sự chia xa vẫn còn bám víu. Mùa xuân dẫu có thay thế cũng chỉ là những hơi thở lạnh lẽo của mùa đông . Chừng nào nỗi buồn còn ám ảnh vào tâm hồn và giăng mờ trên môi mắt hẳn nhiên mùa xuân dường như là chiếc bóng. Người con gái vẫn chờ mong hy vọng, vẫn nuôi nấng trong tim mình một tình yêu dẫu biết mỏng manh. Mỏng manh như chiếc lá ngoài song thưa đang trút bỏ lìa cành.

Chanson de Solveig được nhạc sĩ Na Uy Edwar Gried viết nên khi ông tập trung viết trong vở đại nhạc kịch “ Peer Gynt “ của thi hào Na Uy - Henrick Ibsen mà ông viết nhạc đệm. Grieg đã bỏ ra 2 năm trong đời (1874-1876) để gọt giũa từng âm điệu sao cho xứng đáng với tác phẩm kịch thơ xuất chúng nhất của Henrik Ibsen, được coi là kịch tác gia vĩ đại nhất của thế kỷ XIX, đồng thời, cũng là một trong vài tên tuổi nổi bật nhất của 2.500 năm lịch sử kịch nghệ thế giới. Âm nhạc của Gried là hình ảnh của cuộc sống là tâm hồn con người đến từ sâu thẳm của đồng quê Na Uy , đến từ những làn điệu nhanh và vang vọng. Thưởng thức nhạc của Grieg trong thính phòng, có thể cảm thấy những tia nắng, những hơi thở của biển xanh, những ánh hào quang lấp lánh trên những mỏm băng, những dẫy núi đuổi nhau từ sâu miền Bergen nơi ông sinh ra và yêu thương cất lên lời ca.

Edwar Gried qua đời cách đây hơn 100 năm và được đánh giá là nhà soạn nhạc Na Uy có ảnh hưởng nhất gần cuối thế kỷ XIX, thời kỳ sự phát triển huy hoàng vào bậc nhất thể loại nhạc giao hưởng hoàng gia. Grieg đã trở thành bậc thày âm nhạc Na Uy và thế giới. Ông được coi là người đã hòa quyện tài tình những truyền thống của nhạc dân tộc Na Uy với trường phái lãng mạn châu Âu đương thời.

Hình như tình yêu muôn đời đều thế, là nỗi buồn dù chẳng muốn song vẫn mãi cưu mang. Nhưng trong mênh mang tuyệt vọng niềm khắc khoải, giữa muôn trùng giá lạnh vẫn ấm áp bền bỉ ngọn lửa hy vọng mà người con gái vẫn tháng ngày nhen nhóm nâng niu. Mặc cho mùa đông mang ánh nắng xuân hồng đi xa, mặc cho những hờ hững chưa mang tình yêu nào về lại, mặc cho những đổi thay đến và đi vô thường, mặc cho không gian có chập trùng cách trở. Song người con gái ấy vẫn miệt mài mong đợi , vẫn khát khao niềm tin một ngày tình yêu trở về, người con trai ấy trở về, hạnh phúc sẽ trở về…

Tình này em dâng hiến anh
Em vẫn chờ dù đến bao giờ
Tình em không phai … không phai

Khi trái tim đã trao cho một người. Ấy là khi tình yêu đã đóng đinh lên cây thập giá vĩnh hằng. Sẽ bất tử cho dẫu những đổi thay. Tình yêu ấy sẽ ngàn đời trọn vẹn, sẽ không phai mờ trước hắt hiu già nua quên lãng.

Cầu mong ở nơi ấy anh vẫn sống yên vui thanh bình
Như những giấc mơ em bên mình
Ở nơi xa xăm ấy ôm chiếc bóng cô đơn lạnh lùng
Bao thương nhớ vây quanh bên mình
Trọn đời em thương nhớ anh
Em vẫn chờ … em vẫn chờ
Chờ anh em đợi chờ anh
Tình này em dâng hiến anh
Không bao giờ nhạt phai trong lòng
Thuỷ chung không phai … không phai Sự chờ đợi trong bao vây nỗi nhớ chợt hoá thân bao dung. Trước những mòn mỏi khổ đau người con gái vẫn “ cầu mong ở nơi ấy anh vẫn sống yên vui thanh bình “. Sự ích kỷ thường thấy trong tình yêu đã phải khuất xa để chỉ có nguyên khôi cao thượng. Chỉ có tình yêu mãnh liệt vô bờ bến cùng với trái tim vị tha khôn cùng mới hiện sinh một tình yêu lung linh đẹp đến vậy. Dẫu ngày tháng người con gái vẫn “ôm chiếc bóng cô đơn lạnh lùng “và“ bao thương nhớ vây quanh bên mình “ thì trọn đời tình yêu ấy vẫn không hề thay đổi. Thời gian không phai mờ lòng thuỷ chung nơi tình yêu ấy.

Nghe Chanson de Solveig khiến ai đó đã lỡ lầm lạc bước quên đi chốn tình yêu mà mình đã hờ hừng đi qua ,biết day dứt khi trái tim đã từng rung nhịp. Để biết trở về bên tổ ấm bình yên. Để biết xuân về trên lá biếc chồi xanh

Theo NhacVietPlus

Lời bài hát:

Mùa đông dù trôi qua,
nhưng bóng dáng xuân tươi phai dần
và lá trút không vương trên cành.

Dù cho bao nhiêu năm tháng
mang ánh nắng đông qua xuân về
và nỗi nhớ anh đi chưa về.

Ngàn trùng dù có cách xa
em vẫn chờ dù đến bao giờ.
Tình em không bao giờ phai.

Tình này em dâng hiến anh,
có bao giờ nhạt phai trong lòng.
Tình em yêu anh trọn đời...

A...a...a....

Cầu mong ở nơi xa,
anh vẫn sống yên vui thanh bình
nhờ những giấc mơ em bên mình.

Ở nơi xa xăm ấy
ôm chiếc bóng cô đơn trong lòng
và nỗi nhớ mênh mông vô cùng.

Trọn đời em thương nhớ anh,
em vẫn chờ dù đến bao giờ.
Tình em không bao giờ phai.

Tình này em dâng hiến anh,
sẽ giữ trọn hình anh trong lòng.
Thủy chung yêu anh trọn đời...

A...a...a....


Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

Tàu điện Hà Nội xưa

Tàu điện Hà Nội đã trở thành một dĩ vàng xa xăm trong thời đại “a còng”. Nhưng thông qua những hình ảnh đặc sắc về tàu điện được đăng tải trên nhiều diễn đàn, người Hà Nội lại có dịp ôn lại những kỷ niệm không thể nào quên với phương tiện đi lại “vang bóng một thời” này.
Các tuyến tàu điện ở Hà Nội đã có khoảng thời gian tồn tại gần một thế kỷ, từ khi chạy thử nghiệm vào tháng 9/1900 cho đến khi ngừng hoạt động vào đầu thập kỷ 1990. Đóng vai trò quan trọng trong đời sống, hình ảnh chiếc tàu điện đã đi vào tâm thức của nhiều người dân Hà Nội như  biểu tượng rất đặc trưng của cả một thời kỳ. 
 Trên diễn đàn daumaytoaxe.com, thành viên nick SecondComing nhớ lại: “Mình gắn bó với cái tàu điện từ ngày còn bé tý, nhớ hồi học lớp 2 đã có lần tự đi tàu điện từ Bờ Hồ về chợ Bưởi. Đến khi học cấp 3 ở trường Chu Văn An, mình đã là khách quen thuộc của tuyến Bưởi - Bờ Hồ. Chuyện nhảy tàu ngày bé giờ nghĩ lại thấy sao mà hồi đó mình liều thế. 
 Trước cổng trường cấp 3 Chu Văn An không hề có bến đỗ, tàu chạy qua khu vực đó sẽ chạy chậm lại vì hành trình đang là men theo rìa đường tàu di chuyển ra giữa đường, học sinh lúc đó nhảy rào rào xuống như ong vỡ tổ, chả năm nào là không có tai nạn, chả tháng nào là không có học sinh xây xước chân tay, bản thân mình cũng không ít lần rách quần, xước đầu gối vì nhảy tàu điện. Thời học sinh thì hầu như chả bao giờ mình mua vé, toàn đi nhờ hoặc trốn vé…”.

Tàu điện là một hình ảnh rất quen thuộc ở Hà Nội nhiều thập niên trưóc.
Đó cũng là lý do mà “ngày xưa các bản kiểm điểm của học sinh hay phải có câu: "không hút thuốc lá, không nhảy tàu điện...", theo lời của thành viên Nguyễn Thu Hiền trên mạng xã hội Facebook. 
 “Nhảy xuống đường trong khi tàu điện đang chạy là cả một nghệ thuật”, thành viên Thống Nhất (Facebook) cho hay.
Trong tâm trí trẻ em Hà Nội xưa, chiếc tàu điện mở ra cả một thế giới đầy niềm vui. Đối với thành viên Thuhanoi (diễn đàn Người Hà Nội), cái thế giới ấy được bắt đầu từ ga xe điện Bờ Hồ trên đường Đinh Tiên Hoàng.
Thành viên này chia sẻ: “Cái ga xe điện này đối với tuổi thơ của mình gắn nhiều kỉ niệm lắm. Đầu tiên là xuống ga để đi ăn kem "bốn mùa" trứ danh của Hà Nội. Những thú vui không kể xiết là xuống ga xe điện rất gần với rạp chiếu phim Nhi Đồng... Đi bộ một tí là đến Cầu Thê Húc để vào Đền Ngọc Sơn... Đi bộ một chút nữa là đến Cung văn hóa thiếu nhi..., cửa hàng Bách Hóa Tràng Tiền ... Tha hồ vui chơi trong ngày chủ nhật”.
Dưới đây là một số hình ảnh về tàu điện ở Hà Nội, được các nhiếp ảnh gia trong và ngoài nước thực hiện trong các thời kỳ khác nhau:

Hình ảnh tàu điện Hà Nội trong buu thiếp đầu thế kỷ 20.
Tàu điện chạy trong phố cổ thời Pháp thuộc.
Tàu điện vẫn hoạt động trong những năm tháng ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ, ảnh chụp năm 1972. 
Tàu điện rẽ vào tuyến phố Hàng Ngang, Hàng Đào, năm 1985.
Tàu điện trên quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, với bùng binh mà ngày nay là đài phun nước bờ hồ và nhà điều hành xe điện là tòa nhà "Hàm cá mập". 
Tàu điện trên phố Hàng Giấy, 1989.
Tàu điện trước cửa chợ Đồng Xuân, năm 1989.
Tàu điện tại bến bờ hồ Hoàn Kiếm. Có thể thấy nhà hàng Thủy Tạ ở phía xa.
Tàu điện trên đường Đinh Tiên Hoàng, đoạn gần tháp Hòa Phong bên bờ hồ Hoàn Kiếm.
"Bám đuôi" tàu điện là một cảnh tượng rất quen thuộc.
Tàu điện đi vào bến bờ hồ Hoàn Kiếm, ngày nay đã trở thành bến xe buýt.
Tàu điện "len lỏi" giữa dòng người chật cứng trước chọ Đồng Xuân.
Tàu điện trên phố Đồng Xuân, chạy về phía bốt Hàng Đậu.
Tàu điện trên tuyến phố Thụy Khuê, chạy về chợ Bưởi.
Nhảy tàu điện khi tàu đang chay là cả một nghệ thuật.
Một chuyến tàu điện bị quá tải, năm 1973.
Đeo bám tàu điện và rong ruổi phố phường là thú vui đơn sơ của trẻ em Hà Nội.
Các tuyến tàu điện ở Hà Nội đã tồn tại ngót nghét một thế kỷ. Sự hiện diện của loại hình phương tiện này được bắt đầu vào ngày 13/9/1900, khi Nhà máy xe điện của Pháp tiến hành chạy thử tuyến đường Bờ Hồ - Thuỵ Khuê nhằm phục vụ nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa. Trong những thập niên sau đó, các tuyến tàu điện liên tục được mở rộng. Từ ga Trung tâm ở bờ hồ Hoàn Kiếm, các tuyến đường toả ra 6 ngả: Yên Phụ, chợ Bưởi, Cầu Giấy, Hà Đông, chợ Mơ và Vọng, cũng là 6 cửa ngõ nối nông thôn với nội thành.
Trong những ngày khói lửa của cuộc Toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946, các toa tàu điện đã được những người lính vệ quốc biến thành chướng ngại vật rất hiệu quả nhằm ngăn chặn bước tiến các đoàn xe cơ giới của thực dân Pháp trên đường phố Hà Nội. Sau ngày giải phóng Thủ đô 1954, chính quyền cách mạng tiếp quản Nhà máy tàu điện. Tàu điện trở thành phương tiện cộng cộng rất quan trọng, phục vụ nhân dân rất đắc lực trong nhiều thập niên tiếp theo, từ thời kỳ sơ tán chống Mỹ cho đến khi hòa bình lập tại trên toàn đất nước...
Đến đầu thập kỷ 1990, các tuyến xe điện lần lượt ngừng hoạt động. Nhưng tiếng chuông leng keng của tàu điện đã đi vào tâm thức của nhiều người dân Hà Nội, trở thành biểu tượng rất đặc trưng của cả một thời kỳ.