Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Budapest du ký



Budapest là thủ đô và là thành phố lớn nhất Hungary, thành phố này là trung quan trọng ở Trung Âu. Năm 2009, Budapest có dân số 1.712.210 người, giảm sút so với thời kỳ đỉnh điểm dân số vào giữa thập niên 1980 với dân số 2,1 triệu người. Thành phố có diện tích 525 km2. Budapest đã trở thành thành phố đơn lẻ nằm hai bên bờ sông Danube với sự hợp nhất vào ngày 17 tháng 11 năm 1873 giữa Buda ở bờ tây (hữu ngạn) với Pest ở bờ đông Danube.
Budapest được xem là một trong những thành phố đẹp nhất ở Châu Âu, di sản thế giới UNESCO nằm ở thành phố này gồm hai bờ sông Danube.
Danuyp được gọi theo nhiều tên khác nhau tùy vào ngôn ngữ của mỗi nước nó chảy qua, nhưng tất cả được bắt nguồn từ tên Danu có nghĩa là sông hay dòng chảy Donau (tiếng Đức), Danube (tiếng Anh, tiếng Pháp) Dunaj (tiếng Slovakia), Duna (tiếng Hungary), Dunav (tiếng Croatia, Serbia và Bulgaria), Dunarea (tiếng Romania), Dunay (tiếng Ukraina), Danuvius (tiếng Latinh). Danuyp được coi là dòng sông mẹ của Châu Âu, con sông dài thứ hai ở Châu Âu gần 3000km sau dòng sông Volga.
Danuyp con sông chảy qua 10 quốc gia ở Châu Âu, trong đó có tới 4 thủ đô của Châu Âu là: Wien, Bralistlava, Budapest và Buccurest nằm trên bờ sông Danuyp này. Budapest được xem là Hòn ngọc bên dòng sông Danuyp hay Kinh thành ánh sáng trên dòng sông Danuyp. Thủ đô của Hungary đươc tập trung hai bên bờ sông Danuyp, được kết nối bởi hai khu Buda và Pest, mà cách đây hơn 100 năm thì được kết nối chỉ bằng một chiếc cầu duy nhất, đấy là chiếc cầu Xích.
  
Buda và Pest được nối với nhau bằng bảy cây cầu. Mỗi cây cầu mang một vẻ đẹp riêng và là chứng nhân của lịch sử, là huyết mạch nối hai bên thành phố.Cầu Xích (Chain Bridge hay Lánchíd trong tiếng Hungary) là chiếc cầu mang vẻ đẹp hoành tráng nhất với 4 con sư tử nghễu nghện há miệng ngự hai bên đầu cầu. 



Cầu Xích Széchenyi khánh thành vào năm 1849. Cầu bắt đầu từ thành Pest ở công trường Roosevelt cạnh trường đại học Khoa học và đi qua sông Danube đến công trường Adam Clark gần mốc có tấm đá điêu khắc Zero Kilometer và toa kéo máy (funicular) đưa lên đồi Castle. Cầu Xích đuợc đặt tên theo István Széchenyi, người đã quyết chí dựng một cây cầu qua sông Danube. Cầu do nhà kỹ sư người Anh William Tierney Clark thiết kế với sự hợp tác của kỹ sư người Scott tên Adam Clark (trùng họ nhưng không liên hệ). Cầu này mang những đặc tính, nhưng trên bình diện lớn hơn, của cây cầu Marlow bắc ngang sông Thames ở Marlow, England-một cây cầu của chính W.T. Clark thiết kế. Hai đôi sư sử ở hai chân cầu được thêm vào vào năm 1852. Trải qua nhiều thăng trầm biến đổi, cầu được mang tên cầu Xích từ năm 1898. Cầu bị hư hại nhiều qua hai đại chiến, nhưng sau cùng đã đuợc tu bổ, xây dựng lại vào năm 1947 và lưu thông trở lại vào năm 1949. Adam Clark cũng cho đào một đường hầm dưới đồi Castle để cho tiện viện giao thông. Con đuờng hầm dưới đồi Castle dài bằng đúng như chiều dài của cây cầu Xích.






Và đây là biểu tượng chính của thủ đô Budapest,nằm tọa lạc bên dòng Dabube trong xanh:tòa nhà quốc hội Hungary(Hungarian Parliament Building,tiếng Hung là Országház),được xây dựng vào năm 1896,và hoàn tất vào năm 1904.

The Hungarian Parliament Building (Hungarian: Országház), là một trong những nhà Quốc hội nổi tiếng nhất và lớn thứ hai của Âu Châu Tòa nhà này, khởi sự xây cất từ năm 1885, đuợc khánh thành kỷ niệm 1000 năm của Hungary (1896) nhưng phải đến năm 1904 mới hoàn tất, nằm ở quảng trường Lajos Kossuth, bên phía đông bờ sông Danube. Tòa nhà, xây cất kiểu Gothic giống như điện Westminster của London, trải rộng 268 m chiều ngang, 123 m bề sâu và cao 96 m. Con số 96 m kỷ niệm một ngàn năm của Hung (1896) và chiến thắng lập quốc của triều đại Hungary vào năm 896. Tòa nhà này là một trong hai tòa nhà cao nhất của Hung, tòa thứ hai là Đại Thánh đuờng Saint Stephen.




 Tòa nhà Quốc hội Hungaria chụp dưới các góc độ khác nhau.


Đồi Gellért với khu thành quách xưa có tường dày bằng đá kiên cố.Đường đi từ chân đồi lên đến đỉnh,nơi có đặt tượng Nữ thần Tự do hai tay nâng cao cành lá cọ.




Gellert Monument-Tượng đài thánh Gellért, nằm thẳng từ cầu Elizabeth nhìn lên gần đỉnh đồi Gellért. Tượng do Gyula Jankovits kiến trúc và dựng vào năm 1904 để vinh danh thánh Gellért, vị thánh đã có công truyền Kitô giáo cho người Magyars từ thế kỷ thứ X. Dưới chân tượng có một thác nước nhân tạo. Chuyện kể rằng Gellért đã bị những nguời không tín ngưỡng bắt nhốt vào một thùng tròn (barrel) rồi cho đẩy lăn xuống đồi để rơi xuống sông Danube.


Quảng trường Anh hùng(tiếng Hung:hősök tere) nằm cuối Đại lộ Andrássy,các bạn có thể dạo quanh Đài kỷ niệm Thiên niên kỷ cao vút và chiêm ngưỡng dãy tượng các vị vua chúa lập quốc,các anh hùng dân tộc-biểu tượng của sức mạnh và lịch sử các vương triều Hungary.
Quảng trường Anh Hùng nằm giữa hai tòa nhà văn hóa là Hall of Art và Museum of Fine Arts. Tượng đài Anh Hùng gồm một đài kỷ niệm Thiên Niên Kỷ (Millennium Memorial) và hai đài cong nửa vòng cung bao bọc phía sau với nhiều tượng danh nhân trong lịch sử Hungary.

 Tượng đài Thiên Niên Kỷ bắt đầu xây từ năm 1896 kỷ niệm 1000 năm của Hungary nhưng mãi đến năm 1900 mới hoàn tất.
Phía trước cột Thiên Niên Kỷ là một tấm bia đề chữ "Để kỷ niệm những vị anh hùng đã hy sinh cho Tự Do Dân Tộc và Độc Lập Quốc Gia". Sau tấm bia là cột,trên đỉnh cột là tượng thượng đẳng Thiên sứ (archangel) Gabriel tay phải cầm Vương miện của vị vua đầu tiên của Hungary là Saint Stephen (István), tay trái cầm một chữ thập hai thanh ngang Tông đồ giáo chỉ (two barred apostolic cross), một biểu tượng do Đức Giáo Hoàng Sylvester II đã ban cho vua Stephen để ghi nhận công ơn của vua Stephen đã nỗ lực truyền bá Thiên Chúa giáo đến người dân Hung. Chân cột là tượng của bẩy lãnh tụ của bẩy bộ lạc Magyar đã hướng dẫn dân Hung đến lập nghiệp ở vùng Lòng chậu Carpathian. Người đứng giữa dẫn đầu là Arpád, cha đẻ của quốc gia Hungary.





Và một số công trình kiến trúc đặc sắc khác của thành Budapest cổ kính.












Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

Praha du ký



Praha là thủ đô và thành phố lớn nhất Cộng hòa Séc từ năm 1920, trước đó từ năm 1784 là thủ đô hoàng gia Praha. Praha nằm tại trung tâm vùng Bohemia. Thành phố có dân số 1,2 triệu người, không kể khoảng 300.000 người vào lao động tại thành phố, còn vùng đô thị Praha có 1,9 triệu người. Praha nằm bên sông Vltava ở miền trung Bohemia. Praha đã là trung tâm kinh tế, văn hoá và chính trị của nước Séc trong hơn 1000 năm.

Praha còn được gọi là "Thành phố của hàng trăm chóp nón" và "Thành phố vàng". Kể từ năm 1992, trung tâm của Thành phố đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Theo Sách kỷ lục Guiness, Lâu đài Praha là lâu đài cổ nhất trên thế giới. Praha nằm bên sông Vltava ở miền trung Bohemia.


Cầu Charles - còn gọi là Cầu Tình- cây cầu cổ kính nổi tiếng lãng mạn bậc nhất châu Âu bắc qua dòng sông Vltava.Cầu dài 520m, rộng 10m, được xây dựng hoàn toàn bằng đá vào năm 1357. Hai bên thành cầu là những bức tượng đá rất ấn tượng....


Ngọn tháp dẫn vào cầu Tình
 Đến Praha, ai cũng muốn chạm tay vào bức tượng đồng thánh John of Nepomuk trên cầu với điều ước của mình sẽ thành hiện thực (như muốn có người yêu thì sẽ sớm tại nguyện).

Các họa sỹ ngồi trên cầu Charles vẽ tốc ký chân dung cho khách hàng.



Trên cầu Charles nhìn xuống, thấy một cặp dâu rể đang chụp ảnh bên một ô tô xịn.

Qua Tòa thị chính thành phố Praha, lại gặp một đám cưới khác đang được tổ chức tại đây.





Đến thủ đô nước Séc mà không xem cái đồng hồ thiên văn này điểm chuông 1 lần thì coi như chưa từng đặt chân tới Praha. Chiếc đồng hồ quả là đặc biệt có một không hai, nó không những to,   đẹp mà còn vô cùng phức tạp. Cứ mỗi khi kim phút chỉ đến con số 12 là hàng nghìn du khách được thấy hành trình của 12 vị Thánh tông đồ của Chúa Jesus đi "diễu hành" qua hai cái cửa sổ,cuộc hành trình này được kết thúc bằng tiếng gáy tò tí te rõ là to của chú gà trống nho nhỏ ở phía trên cửa sổ và tiếng kèn vang dội của người canh tháp đứng trên nóc tháp thổi.

Cổng lâu đài Praha.Các Vua chúa Bohemians ngày xa xưa, các Hoàng đế thời La Mã, các Vua chúa Séc, và ngày nay các Tổng Thống Cộng hòa Séc đều đóng đô ở đây.



Nhà thờ chính tòa Praha hay còn có tên Thánh đường Saint Vitus đã trở thành biểu tượng của quốc gia Séc. Vương miện của các đời vua Séc được cất giữ tại nhà nguyện thánh Wencaslas (nằm bên trong nhà thờ chính toà). Nhà thờ cũng là nơi an nghỉ của các ông Séc và các vị giáo chủ. - nằm bên trong khuôn viên Lâu đài Praha, Thánh đường là nơi đặt mộ của nhiều vị vua nước Séc và là Nhà thờ lớn nhất, quan trọng nhất của cả đất nước.





Praha, một thành phố mơ mộng, lãng mạn, cổ kính, rất nhiều cảnh đẹp, lâu đài cổ, tượng đài nghệ thuật... đi một lần mà nhớ mãi.













Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Nghệ sỹ Nhân dân Đăng Thái Sơn


Nghệ sỹ Đặng Thái Sơn tại cuộc thi piano quốc tế Frédéric Chopin tháng 10 năm 1980 ở Warszawa

Nghệ sỹ nhân dân Đặng Thái Sơn (sinh ngày 2 tháng 7 năm 1958 tại Hà Nội) là một nghệ sĩ dương cầm Việt Nam. Năm 22 tuổi, ông đã nổi danh khi đoạt giải nhất cuộc thi piano quốc tế Frédéric Chopin tháng 10 năm 1980 ở Warszawa (Ba Lan). Đó là lần đầu tiên một nghệ sĩ dương cầm châu Á đoạt giải của một trong những kỳ thi dương cầm nổi tiếng quốc tế.
Năm 1984, Đặng Thái Sơn là một trong những nghệ sĩ đầu tiên được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Khi đó ông mới 26 tuổi và là nghệ sĩ nhân dân trẻ nhất khi được trao tặng danh hiệu này từ trước đến nay.
Mới đây, khi trả lời câu hỏi của một người hâm mộ: “Nghệ sĩ Đặng Thái Sơn có nhớ chiếc áo sơ mi trắng anh mặc trong lần biểu diễn đêm chung kết cuộc thi Chopin tại Warsawa năm 1980 là của ai không? Của tôi đấy! Khi đó nghệ sĩ là một SV nhỏ bé sang từ Liên xô trong chiếc áo vest mầu xanh nhạt có đai ở lưng áo. Khi đó chưa ai biết anh là ai cả. Khi anh xuất sắc lọt vào vòng chung kết, anh được may một bộ vest cấp tốc nhưng lại thiếu chiếc sơ mi. Tôi đang học tại Học viện Kỹ thuật quân sự WAT, Warszawa, có áo cùng khổ. Theo gợi ý của ĐSQ VN tại Warszawa lúc đó, tôi đã tặng chiếc áo cho nghệ sĩ để biểu diễn. Đêm đó khi anh đoạt giải nhất, chúng tôi trong ký túc xá đã đứng dậy hoan hô mừng thành công của anh, của một người Việt Nam lần đầu tiên đoạt danh hiệu cao quý này. Riêng tôi, tôi tự hào vì đã làm một việc vô cùng nhỏ nhoi cho anh, cho chúng ta, cho Việt Nam!”. NSND Đặng Thái Sơn đã trả lời:
- Hồi đó đi thi, tôi không bao giờ nghĩ vào nổi chung kết nên chỉ mang quần áo biểu diễn bình thường cho 3 vòng đầu chứ không có trang phục đen cho đêm chung kết. Lúc hết vòng 2, tôi linh cảm mình có khả năng vào được vòng trong nên mới gõ cửa đại sứ quán để vay tiền may quần áo nhưng không được. Khi hết vòng 3, chắc chắn tôi đã vào chung kết nên trước hai ngày, tôi gõ cửa lại lần nữa. Lúc ấy mới vay được.
Tôi vào những cửa hàng quần áo tổng hợp ở Ba Lan thì không tìm thấy bộ nào cỡ vừa vì mình nhỏ quá. Ban tổ chức cuộc thi ra chỉ thị cho một thợ may phải may trong 24 tiếng một bộ quần áo nhung đen cho mình. Chỗ đó họ chỉ may cho tôi vest còn đúng là sơ mi thì tôi không nhớ thật. Chắc là lòng tốt của anh đã giúp nhiều cho tôi trong vòng chung kết. Tôi nghĩ áo sơ mi của anh cũng "thiêng" lắm và đã đem may mắn đến cho tôi”.
Chúng ta cùng xem lại 3 vòng biểu diễn của Đặng Thái Sơn tại cuộc thi piano quốc tế Frédéric Chopin tháng 10 năm 1980 ở Warszawa và đêm chung kết với bộ vest nhung đen mua bằng tiền đi vay với chiếc áo sơmi được tặng, nghệ sỹ đã đoạt giải nhât tại cuộc thi này.


Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

HAPPY NEW YEAR 2013



Khoảnh khắc đón giao thừa 2013 tại các thành phố trên thế giới.

Abba - Happy New Year



Mỗi dịp Giáng sinh và năm mới đến người ta lại được nghe những giai điệu sâu lắng của bài hát Happy New Year. Đã hơn 30 năm kể từ ngày ra đời, chủ nhân của những giai điệu rung động lòng người ấy đang trở nên bất tử dù tuổi tác đã nhuốm bạc trên mái tóc của họ.
Happy New Year - Bài hát này là một siêu phẩm thành công nhất không chỉ của ban nhạc ABBA mà còn của cả thế giới âm nhạc. Đây là bài hát được nghe nhiều nhất mỗi năm. "Happy New Year! Happy New Year!..." mỗi khi những câu hát đó vang lên, từ kẻ giàu sang đến người cùng khổ, từ người già cho đến người trẻ, gái trai, Âu, Á đều có thể cảm nhận được không khí ngày Tết đang tràn ngập khắp nơi.
Giai điệu ngọt ngào của bài hát hướng họ về với gia đình, về với quê hương, nơi đó có sự đoàn tụ, có tình yêu thương, có mùa xuân ấm áp. Có lẽ vì vậy mà đã trên 30 năm trôi qua, nhân loại vẫn không thể sáng tác được một bài hát nào có được tầm ảnh hưởng như bài Happy New Year.
Bài hát dài vỏn vẹn 4 phút 23 giây nhưng lại ngân vang đến vô tận này nằm trong album Super Trouper của ban nhạc huyền thoại ABBA. Sau đó Happy New Year vài lần được tung ra dưới dạng đĩa đơn khi các thành viên ABBA tách ra hát solo. Năm 1999, nhóm A*Teen cover lại bài hát này nhưng tất cả vẫn không thể vượt qua được phiên bản gốc bất hủ của nhóm nhạc với tên gọi được lấy từ chữ cái đầu tiên của bốn thành viên: Benny Andersson, Björn Ulvaeus, Anni-Frid Lyngstad và Agnetha Fältskog.
Cho đến bây giờ ABBA - nhóm tứ tấu disco-pop của Thuỵ Điển - vẫn là 1 trong những ban nhạc nổi tiếng nhất thế giới ở mọi thời đại. ABBA là một trong những ban nhạc thành công nhất trong lịch sử, với con số tiêu thụ lên tới 370 triệu album. Trong khi nhóm không còn biểu diễn cùng nhau kể từ năm 1982, lượng thu âm tiêu thụ tiếp tục ở mức 3 triệu bản một năm và nhạc kịch "Mamma Mia!" do Andersson và Ulvaeus viết dựa trên các hit của nhóm thu hút được tới 27 triệu khán giả khắp nơi trên thế giới thưởng thức. Mamma Mia cũng sẽ được dựng thành phim và ra mắt khán giả vào năm 2008.
Năm 1974 ABBA tham gia cuộc thi Eurovision Contest với ca khúc Waterloo". ABBA đoạt giải Nhất ở Thuỵ Điển và tiếp tục lọt vào cuộc thi chung kết quốc tế ở Anh và trở thành ban nhạc Thuỵ Điển đầu tiên thắng ở cuộc thi lục địa châu Âu. Khắp châu Âu ai cũng biết đến giai điệu của Waterloo và nó luôn nằm trong top 10 ca khúc ở Anh và Mỹ.
Khoảng thời gian 3 năm tiếp theo ABBA tung ra nhiều hit liên tiếp như: Mamma Mia, Fernando, I Do I Do I Do I Do và Knowing Me, Knowing You. Đĩa đơn thành công nhất của họ Dancing Queen giữ vị trí số 1 ở thị trường ngoan cố Mỹ, và họ vinh dự được mời biểu diễn ca khúc này tại lễ cưới của Vua Thụy Điển. Album 1978 Album nằm ở bảng top 20 ở Mỹ và nhận danh hiệu album bạch kim không ít hơn 6 tháng. Cũng trong năm đó, bộ phim truyện dài nhiều tập về nhóm, ABBA The Movie được khởi chiếu trên toàn thế giới.
Sau nhiều năm hẹn hò, cuối cùng Lyngstad và Endersson cũng cưới nhau, nhưng không lâu sau đó Bjorn và Agnetha chia tay nhau. Từ đó trong nhóm bắt đầu xuất hiện những mâu thuẫn mà sau này là nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của nhóm. Tuy nhiên vì lợi ích chung của nhóm, họ đặt chuyện riêng tư sang bên. ABBA tiếp tục tham gia biểu diễn và năm 1979 họ tung ra album Voulez-Vous. Với album này họ lọt vào bảng 5 Top Hit ở Anh và nhận được giải thưởng Album vàng ở Mỹ.
Điều đáng mừng nhất từ việc vì lợi ích chung của họ là siêu phẩm Happy New Year đã ra đời cùng với album Super Trouper, nhưng đáng buồn đây lại là album đánh dấu chấm hết sự nghiệp của nhóm tại thị trường âm nhạc Mỹ mặc dù nó giữ vị trí cao trong bảng xếp hạng quốc tế. Năm 1981 Lyngstad và Andersson ly dị và nhóm chính thức tuyên bố tan rã sau khi tung ra album cuối cùng The Visitors.
Agnetha và Frida vẫn tiếp tục sự nghiệp solo, tuy nhiên họ không thành công như trước kia, vì vậy chỉ sau 1 thời gian ngắn họ quyết định từ giã sự nghiệp ca hát của mình. Frida vẫn là 1 nhân vật rất nổi tiếng ở Scandinavia với vai trò là 1 nhà hoạt động môi trường. Agnetha mới chia tay với người chồng thứ 2 Tomas Sonnenfeld. Andersson và Ulvaeus tiếp tục theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, gần đây nhất ca khúc The Immigrants của họ trở thành hit ở Thuỵ Điển.
Dù đã chia tay nhau từ lâu nhưng lượng đĩa hát của ABBA vẫn tiêu thụ cực mạnh. Điều này khiến cho ban nhạc đến từ Thụy Điển liên tục phải tái bản.Trên Website của mình ABBA cũng liên tục cập nhật những thông tin về các thành viên của họ cũng như gửi thiệp mừng năm mới, chúc mừng Giáng sinh.
Dù bằng cách này hay các khác ABBA mãi sống trong lòng người hâm mộ. Họ đã trở thành bất tử với những ca khúc hit của mình trong đó phải kể đến Happy New Year.