Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016

Bức tượng cô thôn nữ bên bình nước bị vỡ

" Bình nước rơi vỡ rồi, thôn nữ lặng người bên ghềnh đá ... "
      Trong công viên Ekaterina của cố đô Sain Petersburg có một bức tượng đồng đặt trên khối đá cao. Bức tượng một người thôn nữ ngồi lặng người, nét mặt buồn bã nhìn chiếc bình vỡ bên cạnh mình. Tác giả bức tượng đó là nhà điêu khắc đầu thế kỷ XIX  P.Xokolov. Một dòng nước nhỏ chảy ra không bao giờ cạn từ miệng chiếc bình khiến cảnh tượng thật sinh động : Một cô thôn nữ đem bình ra suối lấy nước. Nhưng không may nàng làm vỡ chiếc bình. Thật tiếc vì chắc là chiếc bình quý đã gắn bó với mình bấy lâu, cô thôn nữ buồn lặng ngồi ngẩn ngơ, tay chống cằm, nét mặt buồn thảm. Vì sao nàng làm vỡ chiếc bình ? Ở đây tác giả bỏ lửng câu trả lời để du khách thả trí tưởng tượng hình dung ra, có thể đơn giản là do bất cẩn, hoặc giật mình vì tiếng khuấy động không gian yên tĩnh trong rừng của một con thú đâu đây. Và cũng có thể do chợt nhớ đến mối tình dang dở của mình ...
      Bức tượng cũng làm cho công viên thêm vẻ sang trọng và trữ tình.  Tác giả rất khéo tạo bức tượng thành một đài phun nước nhỏ, vì dòng nước chảy ra từ miệng bình không bao giờ cạn. Thật là độc đáo.
      Dưới đây là những bức ảnh đẹp về bức tượng : фонтан " девушка с кувшином "(молочница)

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Lời nguyền của các bản giao hưởng số 9 định mệnh

https://youtu.be/kbJcQYVtZMo

Nhà soạn nhạc và hội chứng bản giao hưởng số 9
Người ta đã thống kê như thế này: cả Beethoven, Schubert, Dvorak và Vaughan Williams cũng như nhiều nhà soạn nhạc khác đều qua đời sau khi sáng tác bản giao hưởng số 9.
Các nhà âm nhạc học cũng đã có nhiều điều để kể về hội chứng này: Mahler, vì quá mê tín với số 9 nghiệt ngã nên đã cố gắng hoàn thành thật nhanh bản giao hưởng số 10. Nhưng dường như không thể thoát khỏi định mệnh, ông đã mất ngay khi đó.
Bruckner, mặc dù đã cố gắng tránh "lời nguyền về con số 9" bằng cách đánh số hai bản giao hưởng đầu tiên của mình là 00 và 0, nhưng ông cũng đã qua đời ngay trong khi đang viết bản giao hưởng thứ 9 của mình. Còn Sibelius thì sao? Có vẻ như ông đã rất sáng suốt khi dừng lại ở giao hưởng số 8 (trên thực tế thì chỉ công bố chính thức 7 bản) và ông đã sống thêm được tới 33 năm.
(Nguồn: Tia sáng)
 

Mười bản giao hưởng hay nhất mọi thời đại.

Các nhà soạn nhạc người Đức và Áo giành được 8/10 vị trí cao nhất trong danh sách những bản giao hưởng hay nhất mọi thời đại do tạp chí âm nhạc của BBC bình chọn.

Vừa qua, tạp chí âm nhạc của BBC đã khảo sát 151 nhạc trưởng trên khắp thế giới để chọn ra 20 bản giao hưởng hay nhất mọi thời đại.

Kết quả, bản giao hưởng số 3 mang tên Eroica của nhà soạn nhạc vĩ đại Beethoven được các nhạc trưởng nổi tiếng nhất trên thế giới bầu chọn là bản giao hưởng hay nhất mọi thời đại.

Chân dung của nhà soạn nhạc vĩ đại Beethoven. (Nguồn: The Guardian)

Đứng thứ hai trong danh sách là Bản giao hưởng số 9 của Beethoven với tựa đề Ode to Joy. Bản giao hưởng cuối cùng của nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Mozart The Jupiter đứng ở vị trí thứ ba. Tiếp đó, nhà soạn nhạc Mahler (cũng người Áo) chiếm giữ hai vị trí tiếp theo (thứ 4 và thứ 5) với những bản giao hưởng số 9 và số 2 của ông.

Gây bất ngờ nhất, bản giao hưởng số 5 nổi tiếng của Beethoven đã không được lọt vào top 10 mà nằm ở vị trí thứ 11.

Biên tập viên Oliver Condy của tạp chí âm nhạc BBC cho biết, ông không thấy ngạc nhiên khi Beethoven đã có hai ca khúc dẫn đầu trong danh sách và cho rằng kết quả này là "minh chứng cho khả năng thiên phú của Beethoven.”

Nhạc trưởng người Anh Jonathan Nott, giám đốc âm nhạc của Dàn nhạc Giao hưởng Tokyo, thì chia sẻ: “Eroica vượt qua mọi ranh giới quốc gia, lãnh thổ. Bản giao hưởng này viết về chính những con người chúng ta – về những cuộc đấu tranh, thách thức và chiến thắng của chính con người. Sau này, những nhà soạn nhạc thường quá tập trung vào những khó khăn và đau khổ. Nhưng khi nghe nhạc của Beethoven, bạn có thể cảm nhận được sức mạnh và niềm vui của sự sống”.

Eroica được viết năm 1803. Ban đầu, Beethoven viết bản giao hưởng này với mục đích ca ngợi Napoleon. Tuy nhiên, Beethoven thay đổi quyết định sau khi biết rằng Napoleon tự tuyên bố là Hoàng đế. Nhà soạn nhạc người Đức bất bình và xóa bỏ tên ông ta trong bản thảo mạnh tới mức rách cả bản thảo.

Danh sách top 10 còn có sự góp mặt của những tác phẩm như: Bản giao hưởng số 4 của Brahms (vị trí thứ 6); bản giao hưởng Fantastique của Berlioz (vị trí thứ 7); bản giao hưởng thứ 1 của Brahms (vị trí thứ 8); bản giao hưởng thứ 6 của Tchaikovsky (vị trí thứ 9); và bản giao hưởng số 3 của Mahler (vị trí thứ 10).

Tác phẩm có niên đại gần đây nhất trong danh sách là bản giao hưởng số 5 của nhà soạn nhạc Shostakovich đứng ở vị trí thứ 17. Tác phẩm này được hoàn thành vào năm 1937, thời điểm mà ông gặp cơn khủng hoảng cá nhân sau khi vở opera Quý bà Macbeth của quận Mtsensk của ông bị phản đối.

Top 10 bản giao hưởng hay nhất mọi thời đại

1. Beethoven với Bản giao hưởng số 3 (hoàn thành năm 1803)

2. Beethoven với Bản giao hưởng số 9 (hoàn thành năm 1824)

3. Mozart với Bản giao hưởng số 41 (hoàn thành năm 1788)

4. Mahler với Bản giao hưởng số 9 (hoàn thành năm 1909)

5. Mahler với Bản giao hưởng số 2 (hoàn thành năm 1894, được hoàn thiện lại vào năm 1903)

6. Brahms với Bản giao hưởng số 4 (hoàn thành năm 1885)

7. Berlioz với bản giao hưởng Fantastique (hoàn thành năm 1830)

8. Brahms với Bản giao hưởng số 1 (hoàn thành năm 1876)

9. Tchaikovsky với Bản giao hưởng số 6 (hoàn thành năm 1893)

10. Mahler với Bản giao hưởng số 3 (hoàn thành năm 1896)

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

Những bức ảnh màu đầu tiên về Hà Nội


Hồ Gươm, Văn Miếu thuở còn nguyên sơ với những con đường đất hay các cô gái trong chiếc áo yếm hiện lên sống động qua tác phẩm của nhiếp ảnh gia người Pháp Leon Busy.


 Nhiếp ảnh gia Leon Busy được Viện Bảo tàng Albert Kahn (Pháp) cử sang Việt Nam chụp lại cuộc sống của người dân Bắc Kỳ từ năm 1914 tới năm 1917. 60 ảnh trong triển lãm này chọn lọc từ 1.500 bức do Leon Busy thực hiện. Đây là một bức ảnh về hồ Gươm.

 Qua các bức ảnh, người xem có thể thấy được cảnh sinh hoạt, lao động đời thường hay như cách phân tầng xã hội thời bấy giờ. Ảnh cũng thể hiện đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người Hà Nội xưa thấm nhuần Lão giáo, như quan niệm về Đạo Tam phủ hay thờ cúng các linh vật hoặc tư tưởng cấm sát sinh của đạo Phật. Ảnh chụp toàn cảnh Văn Miếu.

 Ảnh lăng mộ Hoàng Cao Khải mà ngày nay chỉ còn là phế tích.

 Bức ảnh về lò giấy ở làng Bưởi. Nghề làm giấy nổi tiếng ở làng Bưởi (làng Yên Thái xưa) nay đã không còn.

 Có nhiều nhiếp ảnh gia để lại những bức ảnh giá trị về Hà Nội xưa, song những bức ảnh chưa từng công bố này mang đến một điều đặc biệt. Nó là những bức ảnh màu đầu tiên về đất Thăng Long xưa. Leon Busy được đánh giá rất "chịu chơi" vì áp dụng kỹ thuật này trong khi nó mới ra đời năm 1903. Trong ảnh là phố Hàng Thiếc.

 Một góc chợ cuối làng ở vùng ven Hà Nội.

 Phố đèn lồng rực rỡ sắc màu qua góc nhìn của Leon Busy. Một mặt hàng nhưng do nhiều nghệ nhân khác nhau làm giúp người mua thoải mái lựa chọn.

 Bức ảnh "Móng tay của nhà nho" thể hiện rõ quan niệm thời xưa rằng người có chữ không được làm công việc chân tay.
 Bên cạnh đó, những bức ảnh màu đầu tiên còn thể hiện rõ phân biệt đẳng cấp xưa. Trong ảnh một người phụ nữ trung lưu đang nấu cơm.

 Tóc vấn, quần áo đắt tiền, có người đứng hầu phía sau cửa... là hình ảnh về những phụ nữ thuộc tầng lớp khá giả xưa. Trong ảnh ba phụ nữ này đang chơi bài.

 Leon Busy cũng sắp đặt một số góc cảnh để chụp ảnh. Hai cô gái ngồi bên bể nước vận trang phục cổ truyền là yếm trắng, quần đen, thắt lưng sáng màu, nón ba tầm.

 Lão nông ngồi giữa sân phơi thóc thể hiện quan niệm về sự sung túc trong đời sống nông nghiệp thời xưa. Sân phơi thể hiện tham vọng của chủ nhà, sân càng rộng nhà càng nhiều thóc.

 Hai thôn nữ vừa đi hái rau muống, họ mặc áo tứ thân, yếm trắng, đầu chít khăn mỏ quạ. 

Đô vật bái thần làng trước trận đấu (làng Xa La, Hà Đông). 
Triển lãm ảnh "Hà Nội, sắc màu 1914-1917" diễn ra từ ngày 9/12/2013 đến ngày 4/1/2014. 
Nguồn:
http://giadinh.vnexpress.net/tin-tuc/to-am/nhung-buc-anh-mau-dau-tien-ve-ha-noi-2923472.html

Hà Nội cổ xưa qua ống kính Toàn quyền Đông Dương

Cuối thế kỷ 19, trên nóc Tháp Rùa có tượng Nữ thần Tự do, chợ Đồng Xuân lợp tôn hoặc mái lá. 

Triển lãm "Ký ức Việt Nam 1895-1896" tại Thư viện quốc gia mới đây giới thiệu hơn 200 bức ảnh của Toàn quyền Đông Dương Armand Rousseau. Trong thời gian đương nhiệm, ông Rousseau chụp khá nhiều ảnh về Hà Nội. Bức ảnh này chụp toàn cảnh Hồ Gươm, vòng đỏ phía xa được xác định là cột khói của xưởng nhuộm thuộc một công ty xây năm 1891, sau chợ Đồng Xuân. Năm 1918, công ty này sáp nhập với Nhà máy dệt ở Nam Định

 Trên hồ Hoàn Kiếm có 2 hòn đảo, một to gần bờ và nhỏ giữa hồ. Giữa thế kỷ 19, người Việt đã xây một đền nhỏ, một ngọn tháp bằng đá (Tháp Bút) và cái cầu bắc qua (Thê Húc) để ra ngôi đền Ngọc Sơn trên đảo lớn.

 Còn ở đảo nhỏ mãi tới năm 1886 mới xây Tháp Rùa bằng gạch. Thời điểm chụp bức ảnh này, trên nóc Tháp Rùa có phiên bản tượng Nữ Thần Tự do của nhà điêu khắc Pháp August Bertholdi được đưa đến Hà Nội dự đấu xảo và sau đó đặt ở đây. Bị dư luận chỉ trích, nó phải chuyển đi nơi khác.

 Cuối thế kỷ thứ 19, những người Pháp ở Hà Nội xem hồ Gươm là hồ Nhỏ, phân biệt với hồ Tây (trong hình) là hồ Lớn.

 Khi người Pháp quy hoạch Hà Nội, nảy sinh xung đột giữa một bên là bảo tồn nơi thờ tự của người Việt với việc bảo tồn những cây cổ thụ và một bên là xây dựng đô thị kiểu châu Âu, du nhập các loại cây phù hợp. Sử chép rằng các quan chức cao cấp chủ trương tôn trọng tập quán thì các quan chức quản lý thành phố ưu tiên yếu tố hiện đại.


Công trình đầu tiên Pháp quy hoạch Hà Nội là chỉnh trang không gian quanh hồ Hoàn Kiếm. Trong ảnh, con đường chạy quanh hồ được khánh thành vào Tết năm 1893.
 


Thời Rousseau cầm quyền, người Pháp không phá bỏ những phố phường từ xưa của đất Thăng Long. Ở mức độ khác nhau, họ đầu tư cải tạo hạ tầng nhưng vẫn giữ nguyên yếu tố truyền thống. Trong ảnh này phố Chợ Gạo vẫn giữ được vẻ sơ sài, bán gạo và nông sản.

 Phố Hàng Mắm với đoàn người gánh các thùng gỗ đựng mắm từ bến sông vào các cửa hàng.

 Phố Hàng Điếu đã rộng rãi, sang trọng hơn vì bán đồ hút cho những vị khách thị dân.

 Phố Hàng Bông có nhà cửa bằng gạch khang trang, đang được chỉnh trang hạ tầng nhờ sức lao động của những người tù khổ sai. Họ đang kéo các chiếc lu lăn đường rất nặng.

 Cùng với việc chỉnh trang khu phố cổ, các đường phố mới cũng được quy hoạch bài bản để mở rộng quy mô của Hà Nội. Trước năm 1888, người Pháp lưu trú trong khu vực, được gọi là Đồn Thủy. Họ đã cho kè đê mở rộng từ Đồn Thủy tới tận Hồ Tây.

 Con phố mang tên “Rue de France - Nước Pháp” từ bờ sông Hồng đi thẳng vào trung tâm hồ Hoàn Kiếm, tạo nên một con đường mới và sầm uất nhất: Đường Paul Bert, nay là Tràng Tiền.

 Con đường đầu tiên mở mang không gian thành phố về phía nam hồ Hoàn Kiếm mang tên vị vua đã ký nhượng Hà Nội cho Pháp - Đồng Khánh - nay chính là phố Hàng Bài.

 Con đường ven hồ Hoàn Kiếm ở phía Đông sẽ là trục đường đi qua các công sở của thành phố: Bưu điện, tòa thị chính, vườn hoa Paul Bert… mang tên một viên sĩ quan Pháp tử nạn, nay là đường Đinh Tiên Hoàng.

 Cái tên Jules Ferry, Thủ tướng Pháp thời đó, được đặt cho một con đường phía Tây hồ Hoàn Kiếm, rất gần Nhà Thờ Lớn.

  Con đường này vốn là phố của thợ vẽ và thợ làm trống, nó được kéo dài tới hết hồ Gươm. Tại đây, nhiều khách sạn, tòa báo và các cửa hàng được lập ra. Xe kéo là phương tiện giao thông chủ yếu trong thành phố thời đó.

 Con voi này là phương tiện đi lại cho một quan chức cao cấp của Việt Nam đang có mặt tại đây.

 Thời điểm Armand Rousseau làm Toàn quyền, dân số Hà Nội chưa đông. Do nhu cầu, người châu Âu trong thành phố đòi hỏi thành lập trường đua ngựa và một nơi tổ chức hòa nhạc. Sân Quần Ngựa được xây gần hồ Tây.

 Còn nhà hòa nhạc (Nhà Kèn) được xây gần hồ Hoàn Kiếm. Vào ngày nghỉ, đội nhạc của Pháp đóng ở Hà Nội thường diễu hành qua hồ rồi về đây hòa nhạc.

 Chùa Láng được xây dựng thế kỷ 17, nổi tiếng với lối kiến trúc và thờ tự đến nay vẫn không mấy thay đổi. Chỉ có điều, hàng muỗm cổ thụ đến nay đã già thêm hơn 100 tuổi và chùa Láng lọt thỏm giữa khu dân cư đông đúc.

 Đền Quán Thánh, ngôi đền được xây từ thế kỷ 12, chuyển về gần Hồ Tây thế kỷ 15. Nó được trùng tu năm 1893 và khánh thành đúng thời điểm ông Rousseau đương quyền. Thời đó người Pháp quen gọi bức tượng đồng Thánh Trấn Vũ nặng 4 tấn là đại Phật.

 Với một đô thị chuẩn Pháp thì một không gian sinh thái nhằm cân bằng cuộc sống đô thị hóa là nhu cầu thiết yếu. Công viên Bách Thảo được xây dựng, trồng nhiều loại cây, nuôi muông thú. Chỗ ở của Rousseau là tòa nhà không lớn nhưng có nhiều cây cối bao quanh. Tới những năm 1901-1907, phủ toàn quyền mới được xây dựng.

 Hà Nội xưa gọi là Kẻ Chợ bởi tự thân là một cái chợ lớn đáp ứng nhu cầu một thời là kinh đô của những vùng xung quanh.

 Chợ Đồng Xuân lớn hơn cả, được quy hoạch ở vị trí hiện thời vào những năm cuối thế kỷ 19. Mái tôn là biểu hiện cho việc đã trở thành đô thị do Pháp quy hoạch. 

 Chợ có khu vực bán rau quả kéo dài ra gần sông Hồng, gần với các bến bãi bán tre nứa được thả từ miền thượng du về. Một Hà Nội của những người bán rong đã có thời đó.

 Lúc này, cầu Long Biên bắc qua sông Hồng chưa hình thành. Ảnh của Rousseau cho thấy vai trò của giao thông đường thủy bằng thuyền gỗ, bè mảng truyền thống hay các loại tàu chạy máy hơi nước. Mùa cạn, những cây cầu phao này sẽ thay thế.


Bộ ảnh còn lưu lại nhiều bức hình quý giá về thành Hà Nội trước khi bị phá hủy. Trong ảnh, Cửa Đoan Môn thẳng với Sở Pháo thủ của quân Pháp.
 
 Cầu bắc vào Cửa Đông thành Hà Nội. Trước khi Pháp làm chủ thành Hà Nội thì Hoàng thành Thăng Long đã 2 lần phải sửa chữa lớn. Vua Gia Long thu nhỏ lại, vua Minh Mạng hạ thấp thành thêm một mức. 


Người Pháp chỉ giữ lại duy nhất cửa Bắc và cột cờ để quy hoạch lại Hà Nội theo đúng chuẩn một thành phố phương Tây. Trong ảnh là quang cảnh bên trong thành Hà Nội. 

 Theo sử chép thì Toàn quyền Armand Rousseau là người thực hiện vì việc khánh thành khởi công năm 1896 và kết thúc năm 1897. 

 Trong bộ sưu tập ảnh của ông, có thể đây là những tấm ảnh cuối cùng cho thấy kiến trúc thành còn khá nguyên vẹn. Việc quy hoạch hoàng thành mới được triển khai, thể hiện ở việc trồng cây xanh và làm đường ở khu vực cột cờ Hà Nội.
                                                                                                            Ảnh: Armand Rousseau
Nguồn:http://giadinh.vnexpress.net/photo/to-am/ha-noi-co-xua-qua-ong-kinh-toan-quyen-dong-duong-2995426.html

Thứ Tư, 29 tháng 1, 2014

Bài hát “Mùa xuân đầu tiên” với nhạc sỹ Văn Cao.




MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN

Sáng tác: Văn Cao
Trình bày: Thanh Thúy.
****************************

Rồi dặt dìu mùa Xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
Mùa Xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
Một trưa nắng cho bao tâm hồn.

Rồi dặt dìu mùa Xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
Mùa Xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.

Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong Xuân vui đầu tiên.
Ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người.

Giờ dặt dìu mùa Xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
Mùa Xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
Một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.
Cố nhạc sĩ Văn Cao: "Mùa xuân đầu tiên", tuyệt tác cuối cùng Có người đã mượn cách chơi chữ để gọi ca khúc "Mùa xuân đầu tiên" là "tuyệt phẩm cuối cùng của thiên tài âm nhạc Văn Cao". Quả đúng thế thật. Ca khúc có số phận kỳ lạ. Nó ra đời sau khi Văn Cao ngừng sáng tác ca khúc tới hai chục năm... Như một tiểu thư đài các, thoạt đầu ca khúc còn dè dặt giữ một khoảng cách với khán giả. Nhưng rồi, cùng với thời gian, như rượu ủ lâu càng ngấm, "Mùa xuân đầu tiên" ngày càng đi vào đời sống. Có lẽ không hề quá lời khi ta khẳng định rằng, đây là bài hát luôn thức dậy trong hồn ta mỗi độ Tết đến xuân về, kèm theo đó là những bâng khuâng, day dứt về một thái độ sống sao cho xứng với những gì mà cả dân tộc đã phải mất bao nước mắt, máu xương mới giành lại được... Họa sĩ, nhà thơ Văn Thao - con trai trưởng của nhạc sĩ Văn Cao đã kể lại quá trình phụ thân mình sáng tác nên ca khúc "Mùa xuân đầu tiên": Vào một ngày giáp Tết Bính Thìn (1976), từ trung tâm chỉnh hình trên Ba Vì trở về nhà (108 Yết Kiêu, Hà Nội), vừa leo lên thang gác, Văn Thao chợt nghe vọng ra tiếng đàn dương cầm. Đó là một điệu valse với giai điệu mượt mà sâu lắng mà ông chưa bao giờ được nghe. Ông bước vào nhà. Một cảnh hết sức ấn tượng hiện ra trước mắt ông: "Văn Cao ngồi bên đàn. Đôi bàn tay khô gầy của ông đang lướt trên những phím đàn ố vàng, loang lổ. Tiếng đàn ấm áp, ngọt ngào âm vang đầy ắp căn phòng".
Nhưng chỉ tới khi Văn Cao tạ thế (năm 1995), mới thực sự đi vào đời sống và ngày càng lan tỏa, chiếm lĩnh tâm hồn khán thính giả, ấy là bởi ở thời điểm đất nước gặp nhiều bộn bề, khó khăn cả về đời sống vật chất và tinh thần, hình như tâm hồn con người cũng chưa đủ độ "lắng" để đón nhận một bài hát sâu sắc, trong trẻo và thánh thiện đến vậy. Như trên đã nói, ca khúc "Mùa xuân đầu tiên" được in lần đầu trên Báo Sài Gòn giải phóng. Cụ thể chuyện này thế nào, trên số Báo Sài Gòn giải phóng ra ngày 2/2/2008, nhạc sĩ Trương Quang Lục cho biết: "Ngày 5/5/1975, nhật báo Sài Gòn giải phóng phát hành số đầu tiên. Vài ba tháng sau đó, Ban Biên tập của báo đã nghĩ đến việc chuẩn bị nội dung cho số báo xuân đầu tiên sau ngày giải phóng, với ý định làm sao để tờ báo xuân này thật hay, thật đẹp, thật hấp dẫn. Do đó, riêng về phần âm nhạc, Ban Biên tập quyết định mời nhạc sĩ Văn Cao, đang ở Hà Nội, viết một ca khúc mới cho số báo Xuân Sài Gòn giải phóng 1976... Khi nghe ý kiến "đặt hàng" này, nhạc sĩ Văn Cao vui vẻ nhận lời và hứa sẽ sáng tác ngay. Mấy ngày sau đó, ông hoàn thành ca khúc "Mùa xuân đầu tiên". Theo nhận định của nhạc sĩ Trương Quang Lục thì "Mùa xuân đầu tiên" chính là "ca khúc đầu tiên được in trên một tờ báo xuân cách mạng tại Sài Gòn sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất".
(Sưu tầm)

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

Shoji Sayaka plays Mendelssohn's Violin Concerto in E minor



Violin Concerto E minor, Op. 64
Sáng tác: Felix Mendelssohn


Bản violin concerto giọng Mi thứ trứ danh của Mendelssohn được mở đầu bằng tiếng violin da diết, sau đó giai điệu chủ đề được dàn nhạc lặp lại. Điều này ngược hẳn với trước đó - từ thời kỳ âm nhạc Cổ Điển đến âm nhạc Lãng Mạn - khi mà hầu hết các bản concerto thường mở đầu bởi giai điệu do dàn nhạc dẫn dắt rồi mới đến lượt nhạc cụ độc tấu thể hiện. Việc đảo ngược thứ tự trình diễn các nhạc cụ là bước đi táo bạo của Mendelssohn. Có ý kiến cho rằng với cách tân này, Mendelssohn đã thay đổi hoàn toàn hình thức concerto cổ điển; đồng thời đưa tác phẩm trở thành bản concerto đầu tiên theo đúng phong cách lãng mạn.

"Viên ngọc của trái tim" - món quà từ Meldenssohn
Tại bữa tiệc sinh nhật lần thứ 75 của mình, Joseph Joachim (1831–1907), một trong những nghệ sĩ violon có ảnh hưởng nhất mọi thời đại, đã nói với các vị khách:
“Người Đức có 4 bản violon concerto.
Bản vĩ đại và không thỏa hiệp nhất là của Beethoven.
Bản của Brahms ganh đua quyết liệt với nó một cách nghiêm trang.
Bản phong phú và có sức quyến rũ nhất là do Max Bruch viết.
Nhưng bản nội tâm nhất, viên ngọc của trái tim, là bản của Mendelssohn.”
“Viên ngọc của trái tim” mà Joachim nói đến chính là bản "Violin Concerto in E minor, Op. 64" (Violon concerto giọng Mi thứ, Op. 64) của nhà soạn nhạc người Đức Felix Mendelssohn (1809–1847). Khi mới 12 tuổi, Joachim đã được trình diễn tác phẩm này trong vai trò soloist (nghệ sĩ độc tấu). Mendelssohn đã viết bản concerto này dành tặng nghệ sĩ violon tài năng Ferdinand David, một người bạn thân của ông (trên danh nghĩa cũng là thầy dạy của Joachim - người được ông bảo trợ). Quãng thời gian đó, David là concertmaster (nghệ sĩ violon chính) của dàn nhạc Leipzig Gewandhaus mà Joachim là thành viên và Mendelsshohn được giao trọng trách chỉ huy từ năm 1835.
Năm 1838, Mendelssohn đã hứa soạn một bản violon concerto dành cho Ferdinand David. Trong một bức thư gửi David đề ngày 30/7/1838, Mendelsshohn viết :
“Tôi muốn viết một bản violon concerto cho anh vào mùa đông tới. Một bản ở giọng Mi thứ đang lướt qua óc tôi và đoạn mở đầu của nó sẽ không để cho tôi yên ổn.”
Trong suốt thời gian soạn bản violon concerto này, Mendelssohn đã thư từ qua lại thường xuyên với David để nhận lời khuyên về tác phẩm. Đáp lại những thắc mắc của David năm 1839, Mendelssohn trả lời :
“Anh thật là tốt khi thúc ép tôi về bản violon concerto! Nhưng đó là một nhiệm vụ không dễ dàng.” Quả thật, phải mất 6 năm, Mendelssohn mới thực hiện xong lời hứa của mình. Một trong những nguyên nhân chậm trễ là do vị quốc vương mới lên ngôi năm 1840 của nước Phổ, Friedrich Wilhelm IV.
Đó là một người không thực tế và hơi điên rồ. Ông ta triệu tập hầu hết những nhà soạn nhạc nổi tiếng của Đức và vạch ra những kế hoạch phô trương cho Berlin - điềm báo trước cho những kế hoạch kỳ quái của Hitler sau này. Gia đình Mendensshohn đã chuyển đến thủ đô năm 1811 và giục giã ông rời Leipzig trở về nhà ở Berlin.
Khi kế hoạch của nhà vua sụp đổ thì Mendelsshohn đã lãng phí hai trong số vài năm buồn bã còn lại của cuộc đời. Đây chính là lý do chủ yếu khiến ông không thể hoàn thành được bản violon concerto cho đến tận năm 1844. Thêm một điều không may mắn cho ông nữa : Mendelssohn bị ốm nên không thể chỉ huy buổi công diễn tác phẩm lần đầu tiên vào ngày 13/3/1845 tại Leipzig. Nhà soạn nhạc người Đan Mạch Niels Gade đã chỉ huy thay ông và phần độc tấu violon do người được đề tặng - Ferdinand David đảm nhiệm.
Nét nhạc xao xuyến, rạo rực do đàn violon độc tấu ngay lúc bắt đầu chương I (Allegro molto appassionato) đã làm những người sành sỏi Saxon ngạc nhiên và vui thích. Bỏ qua đoạn trình bày kép theo thông lệ, Mendelsshohn để cho violon kéo dài một chủ đề chính trữ tình được bắt đầu ở ô nhịp thứ hai. Giai điệu nồng nàn say đắm là đặc trưng nổi bật nhất của bản concerto nhưng sức hấp dẫn cân bằng là cách Mendelssohn phát triển. Ra khỏi phần mở đầu không theo thông lệ, một cấu trúc trong đó nghệ sĩ độc tấu và dàn nhạc quấn quýt một cách linh hoạt và đa dạng, hơn là chỉ đơn giản đảm nhiệm những bè đối lập với nhau một cách hào nhoáng.
Đây là một trong những tác phẩm viết cho dàn nhạc cuối cùng và giàu cảm hứng nhất của Mendelssohn. Mendelssohn đã đạt tới đỉnh cao của những cảm xúc thanh cao, tinh tế trong tác phẩm này. Âm nhạc của nó đầy sức lôi cuốn bởi tính chất nhiệt thành, say đắm lãng mạn chủ nghĩa, nguồn cảm hứng trữ tình, vẻ đẹp duyên dáng tuyệt vời của những giai điệu uyển chuyển ngập tràn tác phẩm.
Violon concerto giọng Mi thứ đã trở thành một tác phẩm trụ cột trong vốn tiết mục thể loại violon concerto. Mỗi năm, nó lại có mặt trong vô số các chương trình hòa nhạc lớn nhỏ khắp nơi trên thế giới. Giới phê bình xếp nó ngang hàng với các concerto xuất sắc của Beethoven, Brahms và Tchaikovsky.
Còn khán thính giả thì hầu như luôn bị nó mê hoặc ngay từ lần thưởng thức đầu tiên. Vì thế mà dù trong di sản âm nhạc của Mendelssohn có đến 7 bản concerto khác nhưng cụm từ “concerto của Mendelssohn” lại thường xuyên được ưu ái dùng để chỉ tác phẩm này mà thôi.
Mendelssohn được coi là thần đồng âm nhạc xuất chúng (có lẽ chỉ đứng thứ hai sau Wolfgang Amadeus Mozart), Mendelssohn biểu diễn trước công chúng khi mới lên 9, bắt đầu sáng tác nhạc lúc 11 tuổi. Âm nhạc của Mendelssohn luôn luôn mang tính trong sáng và yêu đời, ngay cả đối với các bản nhạc viết ở cung thứ thì tinh thần lạc quan cũng không bao giờ bị mất đi cả (điều này thì trái với Chopin, nhạc của Chopin sầu muộn và u uất...)
Giống như Mozart, Mendelssohn có một tài năng thiên bẩm trong việc chọn giai điệu cho tác phẩm, cho nên hầu hết các bản nhạc ông sáng tác đều dễ nhớ bởi vì giai điệu đẹp.
Bản "Violin Concerto in E Minor, op. 64" được Mendelssohn hoàn thành vào năm 1844, tính từ lúc ông bắt đầu có ý tưởng viết cho đến lúc kết thúc là mất khoảng 8 năm.... Bản nhạc này là tác phẩm nổi tiếng nhất của Mendelssohn, và gần như tất cả các nghệ sĩ violin tài năng đều chọn để trình bày khi bắt đầu sự nghiệp của mình.