Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Những pha trình diễn xe đạp địa hình hoàn hảo

26 tuổi, tay lái xe đạp mạo hiểm chuyên nghiệp Danny MacAskill, người Scotland, liên tục gây sốt trên Youtube trong hai năm trở lại đây với những video trình diễn đáng kinh ngạc.
Dưới đây là video biểu diễn xe đạp mạo hiểm của Danny MacAskill mang tên “Way back home” (Đường về nhà) do Red Bull tài trợ thực hiện vào tháng 11/2010, đã thu hút trên 20 triệu lượt người xem trên Youtube.


Và đây nữa:

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

Đại hợp xướng Carmina Burana



Carmina Burana là bản đại hợp xướng của nhà soạn nhạc người Đức Carl Orff (1895 - 1982) sáng tác năm 1937 theo phong cách hiện đại dựa trên một tập thơ cùng tên của các thi sĩ thời trung cổ gồm 25 bài của một phần nhỏ trong số 250 bài thơ. Theo tiếng Latin, "Carmina Burana" có nghĩa là "Những bài ca từ Beuern" ("Beuern" là tên viết tắt của tu viện Benediktbeuern ngày nay thuộc hạt Bad Tölz-Wolfratshausen, bang Bavaria, nước Đức). Đây là một trong những tác phẩm hoành tráng và đồ sộ và được biểu diễn nhiều nhất trên thế giới.
Giáo sư Michel Ducharme cho biết bản hợp xướng là một cách tái hiện hài hước về cuộc sống muôn mặt ở một giáo xứ thời Trung cổ.
Nội dung chính của tác phẩm như sau: những lời hát ca ngợi mùa xuân (chương 3,4,5,6,7), những chàng trai cô gái với tâm hồn trẻ trung tràn ngập tình yêu (xuất hiện ở phần lớn số chương trong tác phẩm), tất cả những vị khách, kể cả cha cố say khướt trong quán rượu (chương 14), ước vọng cổ tích của người dân thường (Giá như cả thế giới là của ta, từ biển cả cho tới sông Rhine. Ta khao khát có được nó, để khiến cho ngay cả nữ hoàng Anh cũng có thể nằm trong vòng tay ta - chương 10). Chi phối cuộc sống muôn màu ấy là “may mắn - nữ hoàng của vũ trụ” xuất hiện ở chương đầu và chương cuối có tên gọi “O Fortuna”: Nữ thần may mắn, nàng như mặt trăng, biến đổi thế… trước thì đối xử tệ bạc, sau lại chiều chuộng, đùa bỡn trí khôn. Bên cạnh nàng, sự túng quẫn và quyền lực tan chảy như băng… 
Ý tưởng về sự quay tròn của bánh xe số phận đã góp phần hình thành nên cấu trúc tác phẩm. Tác phẩm được mở đầu và kết thúc bằng cùng một chương nhạc có tên "Fortuna Imperatrix Mundi" (Nữ thần May mắn thống trị thế gian).
Bản đại hợp xướng Carmina Burana thể hiện sức sống trường tồn của vở nhạc kịch và xua đi những phỏng đoán ban đầu của một vở nhạc kịch có yếu tố ma quỷ ra đời vào thời Phát xít Đức. 




Tu viện Benediktbeuern, nơi người ta phát hiện ra tập bản thảo Carmina Burana (Ảnh: Wikipedia)
  
      Khi khám phá ra tập thơ Carmina Burana, hẳn Carl Orff chẳng thể ngờ rằng rồi đây tập thơ này sẽ làm thay đổi hoàn toàn sự nghiệp của ông. Ông bắt đầu soạn Cantata Carmina Burana dựa trên tập thơ cùng tên ở tuổi 38 và hoàn thành nó ở tuổi 42. Trước đó ông nổi tiếng ở quê hương Munich trong vai trò một nhà giáo dục âm nhạc hơn là một nhà soạn nhạc đa phong cách đã cho ra đời khá nhiều tác phẩm. Và chỉ với Cantata Carmina Burana, Carl Orff mới thực sự tìm được phong cách nghệ thuật không thể trộn lẫn của chính mình.
      "Carmina Burana" theo tiếng Latin có nghĩa là "Những bài ca từ Beuern" (Beuern là tên viết tắt của thành Benediktbeuern ngày nay thuộc hạt Bad Tölz-Wolfratshausen, bang Bavaria, nước Đức). Cái tên "Carmina Burana" là do Johann Andreas Schmeller đặt cho một tập thơ xuất bản năm 1847. Tập này gồm các bài thơ có trong một bản thảo viết tay của người Đức đầu thế kỉ 13 mà người ta phát hiện ra vào năm 1803 trong tu viện Benediktbeuern.
        Phần lớn các booklet CD thu âm Cantata Carmina Burana, chữ  "Benediktbeuern" đã bị in nhầm thành "Benediktbeuren". Chuyện này đã được atlas nước Đức của Britannica and Hallwag xác nhận. Lý do khiến nhiều booklet CD nói trên bị nhầm là vì cụm chữ kết từ "-beuren" rất phổ biến trong tiếng Đức.
        Kể từ khi tập thơ được xuất bản, bản thảo cổ được biết đến dưới cái tiêu đề của tập thơ ngay cả khi giờ đây người ta đều nhất trí rằng có thể nó không được khởi thảo tại      Benediktbeuern mà đúng hơn là từ Seckau. Tập bản thảo có lẽ là nguồn tài liệu quan trọng nhất về thi ca thế tục tiếng Latin trong một danh mục khổng lồ các thi phẩm thế kỉ 12. Ngoài ra trong đó còn có một số bài thơ bằng tiếng Đức cổ và tiếng Pháp cổ. Một số bài đã được phổ nhạc bằng một kiểu ký âm khá hiếm vào thời ấy.
       Tập bản thảo bao gồm xấp xỉ 250 bài thơ và có thể được chia thành bốn nhóm dựa theo đề tài: 55 bài ca luân lý và giễu nhại; 131 tình ca; 40 bài ca chuốc rượu và đùa cợt; 2 tác phẩm cho nhà hát Thiên Chúa giáo thời Trung cổ.
       Tất nhiên cantata Carmina Burana của Carl Orff chỉ sử dụng một phần nhỏ trong số những bài thơ đó. Về cấu trúc, Carl Orff chia Cantata Carmina Burana thành 5 phần lớn, gồm tất cả 25 chương nhạc. Ông dùng ký hiệu attacca ở sau mỗi chương để thể hiện ý đồ rằng các chương phải được trình diễn tiếp nối nhau ngay lập tức mà không ngừng nghỉ.
Fortuna Imperatrix Mundi (Nữ thần May mắn thống trị thế gian): 2 chương
      I.
Primo vere (Lúc vào xuân): 3 chương Uf dem anger (Trên đồng cỏ): 5 chương
      II. In Taberna (Trong quán trọ)
: 4 chương
      III. Cour d'amours (Sự quyến rũ của ái tình)
: 9 chương
       Blanziflor et Helena (Blanziflor và Helena): 1 chương
       Fortuna Imperatrix Mundi (Nữ thần May mắn thống trị thế gian): 1 chương
      Ý tưởng về sự quay tròn của bánh xe may mắn đã góp phần hình thành nên cấu trúc tác phẩm. Tác phẩm được mở đầu và kết thúc bằng cùng một chương nhạc có tên "Fortuna Imperatrix Mundi" (Nữ thần May mắn thống trị thế gian). Trong phạm vị một cảnh, và đôi khi là trong phạm vi một chương nhạc, bánh xe may mắn cũng quay tròn khiến niềm vui chuyển thành nỗi đắng cay, niềm hi vọng chuyển thành nỗi khổ đau.
         Để trình diễn Cantata Carmina Burana đúng chuẩn mực, người ta cần tới các ca sĩ solo giọng soprano, giọng tenor, giọng baritone;  một dàn hợp xướng nam; một dàn hợp xướng hỗn hợp; cùng một dàn nhạc cực lớn với nhiều nhạc cụ bộ gõ (14 trong số các chương nhạc của cantata này viết cho hợp xướng). Điệu bộ diễn xuất của các ca sĩ là không bắt buộc và tùy thuộc vào người dàn dựng.
       Cantata Carmina Burana được trình diễn lần đầu tại Frankfurt vào năm 1937, lần đầu tại San Francisco vào năm 1958, lần đầu tại Luân Đôn vào năm 1960. Vào tháng 10 năm 2003, Cantata Carmina Burana cũng đã vang lên lần đầu tiên tại Hà Nội trong một chương trình do các nghệ sĩ đến từ Viện Thanh nhạc Frankfurt phối hợp với Nhà hát Nhạc vũ Kịch Việt Nam và Dàn hợp xướng quốc tế Hà Nội thực hiện.
       Thính giả có thể không hiểu được cặn kẽ những câu thơ ca tụng các thú vui trần tục (rượu vang, phụ nữ và tình yêu) trong đời sống của một giáo xứ thời Trung cổ được thể hiện bằng tiếng Latin, tiếng Đức cổ và tiếng Pháp cổ trong Cantata Carmina Burana. Nhưng đây không phải là một tác phẩm thuộc loại khó nghe.
       Là một tác phẩm thời kỳ Hiện đại nhưng bản cantata này rất đơn giản về mặt hòa âm, không như rất nhiều tác phẩm âm nhạc cổ điển được sáng tác trong thời kỳ này. Tiết tấu dồn dập và bản năng âm nhạc cơ bản luôn cho phép thính giả hưởng ứng tác phẩm ngay lập tức. Và  Cantata Carmina Burana sẽ tiếp tục là một lựa chọn sáng giá cho những buổi hòa nhạc lớn ngoài trời dành cho đại chúng.


Contents Fortuna Imperatrix Mundi (Fortune, Empress of the World) 
1. O Fortuna
2. Fortune plango vulnera
I. Primo vere (In Springtime) 
3. Veris leta facies (No strings and only a small chorus)
4. Omnia sol temperat
5. Ecce gratum Uf dem anger (On the Lawn)
6. Tanz
7. Floret silva nobilis (Small and large choruses)
8. Chramer, gip die varwe mir (Small and large choruses) [German]
9. Reie [German]
10. Were diu werlt alle min [German]
 II. In Taberna (In the Tavern) 1
1. Estuans interius
12. Olim lacus colueram (No violins used)
13. Ego sum abbas (Only percussion and brass with chorus)
14. In taberna quando sumus
III. Cour d'amours (The Court of Love) 
15. Amor volat undique (Boys chorus with soprano)
16. Dies, nox et omnia
17. Stetit puella
18. Circa mea pectora
19. Si puer cum puellula
20. Veni, veni, venias (Double chorus with 2 pianos & 6 percussionists)
 21. In truitina
22. Tempus est iocundum (2 pianos, percussion and all vocalists except tenor)
 23. Dulcissime Blanziflor et Helena (Blanziflor and Helena)
24. Ave formosissima (Three glockenspiels with independent parts) Fortuna Imperatrix Mundi (Fortune, Empress of the World)
25. O Fortuna (Fortune, Empress of the World)

Beethoven - Symphony No.9



Trích đoạn Bản Giao hưởng số 9 của Beethoven với sự tham gia biểu diễn của dàn đồng ca 10.000 người

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012

Vui một tí

Đàn ông trước khi cưới như một chú gà trống hùng dũng, cưới vợ rồi xác xơ không còn một cọng lông... một trong những hình ảnh thú vị về chuyện vợ chồng ở Việt Nam.

Bài học vỡ lòng trước khi làm chồng: Phải ngoan!
Ôi, cuộc đời đàn ông!
Lấy vợ rồi, cứ dép rách mà đi...
Bước đường vô sản hóa của những ông chồng.
Vợ luôn đúng - đó là chân lý ở đời.
Bí quyết để vợ đẹp, con xinh.
Chồng uống, vợ khen, cả xóm thèm.
Đám cưới mùa ngập lụt.
Khi chú rể thích khoe "lốp căng".
Lãng mạn đám cưới bằng xe trâu.

Máy cày đưa nàng về dinh.
Đám cưới trăm năm có một: Hà Nội trong trận lụt lịch sử 2008.
Cái gì cũng có thể cho thuê, kể cả đám cưới.
Chạy đâu cho thoát.

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

Trên từng cây số



Lời bài hát trong phim:

НИЕ СМЕ НА ВСЕКИ КИЛОМЕТЪР

Нас червеното знаме роди ни,
нас не ще ни уплаши смъртта -
ние сме на всеки километър
и така - до края на света.

Пада другарят в смъртен бой,
пада за теб, свобода,
за да изгрее и стане той
малка червена звезда.

Нас далечни победи ни викат,
нас ни чака в зори радостта -
ние сме на всеки километър
и така - до края на света.


Trên từng cây số (tiếng Bulgaria: На всеки километър) là một bộ phim truyền hình Bulgari, kể về cuộc chiến của nhân dân Bulgari trong Đệ Nhị Thế Chiến, công cuộc tái thiết và chống lại các lực lượng phá hoại. Bộ phim gồm 26 tập chia làm hai phần, quay trong những năm 60 củathế kỷ 20 và bắt đầu trình chiếu từ năm 1969.
Diễn viên thủ vai chính đại úy Deanov lúc trưởng thành hiện đang là Bộ trưởng Bộ Văn hóa Bulgaria từ năm 2005, Stefan Danailov (sinh ngày 9/12/1942).
Vai đại úy Bômbốp do nghệ sỹ nhân dân Grigor Vachkov (26/5/1932-18/3/1980) đóng.

"THIẾU TÁ" TÀI BA BỘ TRƯỞNG TÂM HUYẾT

Ở buổi rạng đông của vô tuyến truyền hình (đối với nước ta là thập niên 1960, đặc biệt là từ 1975), những bộ phim truyện nhiều tập trên màn ảnh nhỏ để lại trong lòng khán giả Việt Nam những ấn tượng khó quên. Bộ phim truyện tình báo Trên từng cây số dài 26 tập của điện ảnh Bulgaria nằm trong số tác phẩm hiếm hoi đó, mang lại niềm hồi hộp, chờ đón kéo dài hàng mấy tháng trời.
05-Thieu-ta-23108-300A1.jpg

Cuộc phiêu lưu thực thi công vụ của thiếu tá tình báo Deianov đẹp trai, tài ba và vô cùng mưu trí, dũng cảm trong phim Trên từng cây số đã lôi cuốn những người hàng xóm láng giềng quây tụ trước màn hình trắng - đen hồi ấy. Khán giả Việt Nam mê Deianov đến mức tìm mua ảnh của anh về dán trên tường, dán vào sổ tay, thậm chí còn gài vào ví như một thứ tùy thân... Hình ảnh Deianov thời đó còn oai phong và có giá trị hơn nhiều so với hình ảnh của điệp viên 007 mãi về sau này mới được ra mắt. Từ bấy đến nay, chàng diễn viên thủ vai Deianov – Stefan Danailov – đã trở thành biểu tượng của sự thành đạt ở xứ sở Hoa Hồng.

      Stefan Danailov cất tiếng chào đời ngày 9.12.1942 tại Sofia và từ nhỏ đã nuôi mộng trở thành thủy thủ tàu viễn dương. Ngay khi đang ngồi ghế nhà trường, Stefan đã phát lộ năng khiếu đóng kịch nên cậu diễn viên nghiệp dư này được phân một vai trong bộ phim Những dấu vết còn lại. Có lẽ lần đầu xuất hiện trên màn ảnh ấy là hết sức thú vị và đã lái chí hướng của Stefan Danailov vào con đường nghệ thuật. Năm 21 tuổi (1963), chàng thanh niên đẹp trai được nhận vào học lớp đào tạo diễn viên của giáo sư Stefan Syrchadjev thuộc trường Đại học Sân khấu VITIZ mang tên Kr. Sarafov. Tốt nghiệp năm 1966, Stefan Danailov trở thành diễn viên chính của những nhà hát lừng danh ở Bulgaria như Nhà hát Nhân dân Ivan Vazov, Nhà hát Plovdiv (1966-1967), Nhà hát Quân đội Nhân dân, nay là Nhà hát Quân đội Bulgaria (1973-1979). 

05-Thieu-ta-23108-300A2.jpg

 Stefan Danailov đã đóng vai chính trong sáu chục bộ phim điện ảnh và truyền hình, kể từ những vai diễn đầu tiên trong các phim Buổi sáng thứ Hai, Biển, Mùi dầu lạc, đáng kể nhất là Viên thanh tra và đêm tối (1963), Chức vụ đầu tiên (hợp tác Liên Xô – Bulgaria, 1966), Thiên thần đen (1969),Trên từng cây số (truyền hình 26 tập, 1968-1971), Hoàng tử (1970), Ivan Kondarev (1972), Hừng đông trên sông Drava (1974),  Yulia Vrevskaya(1977), Hơi ấm, Vũ điệu trắng, Mưa suốt 24 giờ (1982), Boris Đệ Nhất (1984), Cuộc chơi lớn (phim truyền hình, 1988), Vũ hội hóa trang (1990), Chàng Don Quixote trở về (1996), Sau ngày tận thế (1998), Hãy tha thứ cho chúng tôi (2003)... Ngoài ra, Stefan Danailov còn được mời tham gia những bộ phim do Bulgaria hợp tác sản xuất với Liên Xô, Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha, Italy... Ở cái thời bộ phim truyện hình sự nhiều tập Italy Bạch tuộc nổi đình nổi đám, hãng RAI của Italy đã mời Stefan Danailov sang đóng một số vai, và sự xuất hiện của “cựu sỹ quan tình báo Đỏ” đã hút hồn hàng triệu khán giả. Michel Placido – diễn viên huyền thoại làm nên thành công của chuỗi phim Bạch tuộc - đã nhận xét về người bạn diễn mới mẻ của mình: “Stefan Danailov là một diễn viên vĩ đại”. 

05-Thieu-ta-23108-300A3.jpg

  Qua các kỳ Liên hoan phim toàn Bulgaria (thường được tổ chức tại thành phố biển Varna), Stefan Danailov đã được tặng giải Đặc biệt (1969) về phim Trên từng cây số, hai giải diễn viên nam xuất sắc nhất (1970) về vai Hoàng tử Sviatoslav Terter trong phim Hoàng tử và vai nam chính trong phim Thiên thần đen. Trên trường quốc tế, nghệ sỹ đã giành được giải thưởng cao nhất tại Liên hoan phim Karlovi Vari (Tiệp Khắc) 1970. Tháng 11.2002 Stefan Danailov được tặng giải Paisiy Hilendarski (mang tên một nhà khai sáng thế kỷ XVIII được người Bulgaria phong thánh) về những cống hiến xuất sắc cho nền văn hóa hiện đại Bulgaria... Mới đây nhất, ngày 9.4.2008, nghệ sỹ được tặng giải thưởng hàng năm của Hiệp hội Viện sĩ hàn lâm 21 vì có công thúc đẩy các hoạt động sáng tạo và tổ chức củng cố nền văn hóa Bulgaria. 
      Với một bề dày trong lao động sáng tạo như thế, dễ hiểu vì sao, khi chuyển sang phụ trách những khóa đào tạo diễn viên từ năm 1988, Stefan Danailov lại được học trò tôn làm sư phụ. Năm 1996 ông được phong hàm phó giáo sư và năm 1999 – giáo sư của Học viện Điện ảnh và Sân khấu Sofia.
Cùng với những hoạt động sân khấu và điện ảnh, Stefan Danailov có một đời sống xã hội rất chan hòa và mang tính tiên phong - âu đó cũng là điều cần phải có của một thần tượng, một người của công chúng. Năm 1994, nghệ sỹ sáng lập, rồi nhận làm Phó chủ tịch của Quỹ xã hội Avansena, từ năm 1996 đảm nhận cương vị Chủ tịch Ủy ban Quốc gia thuộc Viện Quốc tế Sân khấu Địa Trung Hải. Từ năm 2001 đến năm 2005 là đại biểu quốc hội Khóa 39, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa thuộc Quốc hội Bulgaria, góp phần xây dựng và thông qua nhiều sắc luật quan trọng đối với nền văn hóa - giáo dục nước nhà: Luật về Điện ảnh, Luật về Quyền tác giả, Luật về Thư viện Công cộng, Luật về Giáo dục Toàn dân, Luật về Giáo dục Đại học... Năm 2005, Stefan tái đắc cử đại biểu quốc hội và ngày 17.8 năm đó được bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Văn hóa. Tuy bây giờ, nghệ sỹ ít xuất hiện trong những thước phim nghệ thuật, song những điểm nhấn của tổ hợp Cung Văn hóa Quốc gia, được khánh thành năm 1981, nhưng nay đã xuống cấp rất nhiều. Trước đây, để kỷ niệm người đã sinh ra mình, Cung Văn hóa đã mang tên Liudmila Zhivkova (con gái của cố Tổng bí thư Đảng Cộng sản Bulgaria Todor Zhivkov. Bà nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Văn hóa và Nghệ thuật Bulgaria. Bà chính là người nêu chủ trương và tổ chức việc xây dựng tổ hợp công trình Cung Văn có thể gặp lại trên những phương tiện truyền thông một gương mặt thân quen của thiếu tá tình báo Deianov - nay đã ngoại lục tuần, nhưng vẫn giữ nguyên vẻ tinh anh và đôn hậu. Ấy là khi Stefan Danailov Bộ trưởng Bộ Văn hóa đến thăm khu nghỉ dưỡng của những nghệ sỹ lão thành với tình cảm thân tình và ra những quyết định nhằm cải thiện điều kiện sống cho họ. Ấy là khi Stefan Danailov Bộ trưởng Bộ Văn hóa đấu tranh quyết liệt với sự thoái thác của vị thị trưởng Sofia để phục chế tượng đài 1.300 năm Bungari (681-1981). Công trình nghệ thuật bề thế này là một trong hóa này rồi qua đời năm 1983 bởi những nguyên nhân đến nay vẫn chưa sáng tỏ)... Quyết tâm của Stefan Danailov biểu thị rõ tâm huyết với nền văn hóa dân tộc, bởi vì Diễn đàn UNESCO tháng 2.2008 đã ra nghị quyết xây dựng Sofia thành trung tâm bảo tồn di sản văn hóa của cả vùng Đông Âu và Nam Âu.

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

Hà Nội trước 1975 dưới ống kính chuyên gia Đông Đức

Nguồn: http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/Ha-Noi-truoc-1975-duoi-ong-kinh-chuyen-gia-Dong-Duc/20125/212791.datviet
Chuyên gia CHDC Đức đi thăm nhiều địa điểm khác nhau và ghi lại những hình ảnh chân thực về cuộc sống và con người miền Bắc sau cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của không quân Mỹ vào năm 1972.
>> Những hình ảnh vô giá về đất lửa Quảng Bình
>> Ảnh hiếm: Đám cưới gần vĩ tuyến 17 năm 1969

Günter Mosler - kỹ sư luyện kim của Cộng hoà dân chủ Đức đã đến miền Bắc Việt Nam trong những năm 1973-1974 để giúp các đồng nghiệp người Việt xây dựng một nhà máy sản xuất gang thép ở Thái Nguyên.
Trong thời gian này, Günter Mosler đã đi thăm nhiều địa điểm khác nhau và ghi lại những hình ảnh chân thực về cuộc sống và con người miền Bắc sau cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của không quân Mỹ vào năm 1972. Các bức ảnh được ông đăng tải trên trang Panoramio.
Dưới đây là những bức ảnh ông thực hiện ở Thủ đô Hà Nội:



Cầu Thê Húc dẫn vào đền Ngọc Sơn.
Giấc ngủ trưa bên bờ hồ Hoàn Kiếm.
Người ngủ, người ngồi nghỉ, người khác thì bơi lội dưới hồ.
Xe điện ở khu vực ngã 5 bờ hồ Hoàn  Kiếm.
Đường phố Hà Nội.
Dấu tích đổ nát do bom Mỹ gây ra vẫn còn hiện diện.
Trẻ em tụ tập trên vỉa hè.
Chùa Quán Sứ.
Kĩ sư Günter Mosler và vợ thăm một ngôi chùa.
Mái chùa cổ kính.
Bơi thuyền trên hồ Hoàn Kiếm.
Chụp ảnh lưu niệm bên bờ hồ.
Tại một công viên ở Hà Nội.
Một con thuyền trên sông Hồng, nhìn từ khu vực Nhật Tân.
Đài tưởng niệm những nạn nhân của bom Mỹ trên phố Khâm Thiên ngày 26/12/1972 tạc dòng chữ "Khâm Thiên khắc sâu căm thù".
Xác máy bay B52 ờ phường Quảng An.