Thứ Hai, 20 tháng 1, 2020
Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018
TUYẾT
Câu chuyện tình yêu lãng mạn ở vùng biển du lich nổi tiếng của Liên Xô - Krưm, nơi “Có thể ngày mai ta cũng đi qua - Một cánh cửa nao lòng trong truyện “Tuyết”? Có tiếng chuông rung, và con mèo Ackhip - Ánh nến mơ hồ như hạnh phúc đã từng mong…”
Truyện của Paustovski nhẹ nhàng, chậm rãi mà tinh tế & thấm đẫm tình người! Cả cảnh vật cũng rất có hồn & dễ đi vào lòng người đến kinh ngạc. Hãy cùng đọc lại & cùng cảm nhận để càng yêu thêm nước Nga!
TUYẾT
Konstantin Paustovsky
Tachiana Petơrốpna dọn đến nhà cụ Pôtapốp được một tháng thì cụ mất. Nàng ở lại một mình với đứa con gái nhỏ là Varia và người vú già.
Ngôi nhà nhỏ, chỉ có ba gian, ở trên một ngọn đồi trông xuống con sông phía bắc ngay đầu tỉnh lỵ. Sau nhà, bên kia khu vườn đã trụi lá là một rừng bạch dương phơi màu trắng bạc. Ở đó, từ sáng đến tối, lũ quạ kêu quàng quạc, bay thành từng đám mây đen trên những ngọn cây trần trụi, báo hiệu trời xấu.
Từ khi rời Maxcơva, Tachiana mãi vẫn không sao quen được cái tỉnh lỵ đìu hiu với những ngôi nhà nhỏ bé, nhũng cánh cửa hàng rào kêu ken két, những buổi tối vắng lặng, nghe rõ cả tiếng ngọn đèn dầu hỏa nổ lép bép.
“Mình ngốc quá ! - Nàng nghĩ. - Không dưng đi bỏ Maxcơva, nhà hát và bè bạn ! Đáng lẽ phải đưa Varia đến với bà vú ở Puskinô, nơi đó chưa bị máy bay bắn phá lần nào, còn mình thì cứ việc ở lại Maxcơva. Trời, mình thật ngốc !”.
Nhưng không thể trở lại Maxcơva được nữa rồi. Tachiana quyết định biểu diễn trong các trạm quân y - trong thị trấn này có vài trạm - và nàng cảm thấy yên tâm. Nàng còn thấy thích cái tỉnh lỵ ấy nữa là khácc, nhất là khi đông về và tuyết xuống phủ đầy. Ngày lại ngày, êm dịu và xám ngắt. Sông mãi chưa đóng băng, mặt nước màu xanh lá cây bốc khói.
Tachiana quen dần cả với tỉnh lỵ và cả với ngôi nhà không phải của mình. Nàng đã quen với chiếc dương cầm lạc giọng, những tấm ảnh úa vàng trên tường chụp những thiết giáp hạm cổ lỗ bảo vệ bờ biển. Trước kia, cụ Pôtapốp làm thợ máy tàu biển. Trên cái bàn giấy phủ dạ xanh của cụ có đặt mô hình tuần dương hạm “Grômôbôi”, trên tàu đó cụ đã làm việc. Varia không được phép sờ vào mô hình ấy. Và nói chung, không được sờ vào bất cứ vật gì.
Tachiana biết cụ Patôpốp có con trai đang phục vụ trong hạm đội Hắc Hải. Trên bàn, bên cạnh mô hình tuần dương hạm, có bức ảnh của anh. Đôi lúc, Tachiana cầm bức ảnh lên ngắm nghía rồi nhíu đôi lông mày thanh thanh lại, nghĩ ngợi. Nàng cứ có cảm giác là đã gặp anh ở một nơi nào đó, nhưng đã lâu lắm rồi, trước cả cuộc hôn nhân không toại nguyện của nàng. Nhưng ở đâu ? Và khi nào nhỉ ?
Anh lính thủy nhìn nàng bằng đôi mắt bình thản hơi có vẻ chế nhạo, như muốn hỏi : “Thế nào chị ? Chẳng lẽ chị vẫn chưa nhớ ra là chúng ta đã gặp nhau ở đâu hay sao ?”.
- Không, tôi không nhớ. - nàng trả lời khe khẽ.
- Mẹ ơi, mẹ nói chuyện với ai thế ? - Varia từ phòng bên hỏi
- Với cái dương cầm con ạ, - Tachiana cười, đáp lại.
Vào giữa mùa đông bắt đầu có những lá thư do cùng một bàn tay viết gửi cho cụ Patôpốp, Tachiana xếp những lá thư ấy lại trên bàn. Một lần đang đêm nàng chợt thức giấc. Ánh tuyết mờ mờ chiếu vào cửa kính. Con mèo xám Ackhip của cụ Patôpốp để lại đang ngáy khò khò trên đi-văng.
Tachiana khoác áo choàng mỏng, vào phòng làm việc của cụ Patôpốp và đứng một lát bên cửa sổ. Một con chim lặng lẽ bay vụt ra khỏi cây làm tuyết đổ xuống. Tuyết bay như bụi trắng, phủ một lớp mỏng trên mặt kính.
Tachiana thắp ngọn nến trên bàn, ngồi xuống ghế bành và nhìn mãi ngọn nến. Ngọn nến cũng chả buồn lay động. Sau đó nàng thận trọng lấy ra một bức thư, bóc phong bì, nhìn chung quanh rồi bắt đầu đọc :
“Cha yêu quý, thế là con đã nằm bệnh viện được một tháng - nàng đọc. - Vết thương không nặng lắm. Đại thể là nó đang lên da non. Xin cha đừng lo lắng và chớ hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Con van cha đấy !”
“Con luôn nhớ đến cha, - Tachiana đọc tiếp, - đến ngôi nhà của cha con ta, đến tỉnh lỵ của chúng ta. Tất cả những cái đó xa xăm quá, tưởng như ở đâu mãi chân trời. Con nhắm mắt lại và thấy con mở cửa hàng rào, bước vào vườn. Mùa đông, tuyết xuống, nhưng còn đường dẫn tới phong đình bên dốc đã được quét dọn sạch sẽ, còn băng bụi phủ đầy những khóm tử đinh hương. Lò sưởi trong phòng kêu tí tách. Khói bạch dương thoang thoảng. Cây dương cầm cuối cùng đã được lên dây lại và cha đã cắm những cây nến vàng hình xoắn ốc con mua từ Lêningrat vào những chân đèn. Và vẫn những bản nhạc ấy trên chiếc đàn ? Bản tự khúc của vở nhạc kịch “Con đầm Pích” và tình ca “Trên bờ cõi Tổ quốc xa xôi”. Không biết những quả chuông treo ở cửa có kêu không ? Thế là con vẫn chưa kịp chữa. Chả lẽ rồi con sẽ lại được gặp tất cả những cái đó ? Chả lẽ rồi con lại được lấy nước giếng trong bình mà rửa sạch bụi đường xa ? Cha nhớ không ? Ôi, nếu cha biết được rằng từ chốn xa xôi này con yêu mến tất cả những cái đó biết chừng nào ! Cha đừng ngạc nhiên, nhưng con nói với cha một cách thật nghiêm túc rằng con nhớ đến những cái đó trong những phút ác liệt nhất của trận đánh. Con biết rằng con đang bảo vệ không riêng gì bờ cõi đất nước mà cả cái góc nhỏ bé và thân yêu ấy trong lòng con : tức là cả cha, cả khu vườn nhà ta, cả những chú bé tóc bù xù trong làng ta, cả những cánh rừng bạch dương bên kia sông và cả con mèo Ackhip nữa. Xin cha đừng cười và đừng lắc đầu cha nhé.
Có thể khi ra viện con sẽ được về nhà ít lâu. Điều đó chưa chắc lắm. Tốt hơn là cha đừng đợi”.
Tachiana ngồi mãi bên bàn, mắt mở to nhìn qua cửa sổ, nơi bình minh bắt đầu hé lên trong màu xanh dày đặc, và nghĩ rằng rồi đây, ngày một ngày hai, một người không quen biết có thể từ mặt trận trở về ngôi nhà này và nguời đó sẽ đau khổ khi phải gặp những người xa lạ ở đây và phải trông thấy mọi vật hoàn toàn không giống như ý người đó muốn.
Sáng hôm sau, Tachiana sai Varia lấy xẻng ra dọn con đường dẫn tới phong đình trên bờ dốc. Cái lầu đã hoàn toàn cũ nát. Những cột gỗ mốc meo, rêu phủ đầy. Tachiana tự tay chữa quả chuông con trêu trên cửa. Trên chuông có một hàng chữ đúc đến buồn cười “Ta treo trên cửa - hãy giật cho vui !”. Tachiana đụng vào chuông, nó kêu lên lanh lảnh. Con mèo Ackhip khó chịu, ve vẩy đôi tai, rồi bực dọc đi ra khỏi nhà ; có lẽ nó cho tiếng chuông vui vẻ kia là càn rỡ.
Trưa hôm đó, Tachiana, má ửng hồng, cười nói ầm ĩ, mắt quầng thâm vì xúc động, từ ngoài phố về dắt theo một ông lão lên dây đàn, một người Tiệp đã Nga hóa. Ông lão làm nghề chữa đèn cồn, đèn dầu hỏa, búp bê, ắccoócđêông và lên dây đàn dương cầm. Ông lão có cái họ rất buồn cười : “Nêviđan” (của lạ). Sau khi lên dây đàn, ông già nói rằng chiếc đàn cũ nhưng rất tốt. Không cần ông nói Tachiana cũng biết.
Khi ông lão đã ra về, Tachiana cẩn thận lục khắpc các ngăn kéo bàn và tìm thấy một gói nến to hình xoắn ốc. Nàng cắm và các chân nến đặt trên dương cầm. Tối đến, nàng thắp nến, ngồi chơi đàn, và tiếng nhạc tràn ngập ngôi nhà.
Khi Tachiana ngừng chơi và tắt nến đi thì một làn khói thơm tỏa ra khắp các phòng như quanh cây thông ngày hội.
Varia không chịu được nữa.
- Sao mẹ lại đụng vào đồ vật của người khác ? - Nó nói với Tachiana. - Mẹ cấm con, còn mẹ thì lại đụng vào đủ mọi thứ ? Nào chuông, nào nến, nào đàn. Mẹ lại đặt những bản nhạc của người ta lên trên dương cầm nữa.
- Vì mẹ là người lớn, - Tachiana trả lời.
Varia chau mày, ngờ vực nhìn mẹ. Lúc này Tachiana không giống người lớn một chút nào. Mặt nàng tươi hẳn lên và nom nàng giống cô gái tóc vàng đã đánh rơi chiếc hài pha lê trong hoàng cung. Chính Tachiana đã kể cho Varia nghe chuyện cô gái ấy.
* *
*
Ngồi trên tàu hỏa, trung úy Nikôlai Pôtapốp đã tính rằng anh chỉ có thể ở nhà với cha nhiều lắm là một ngày đêm. Hạn nghỉ phép thì ngắn mà đi đường đã chiếm gần hết thời gian.
Tàu hỏa tới thành phố vào ban ngày. Ngay tại nhà ga, trung úy được người quen làm trưởng ga cho biết cha anh đã mất một tháng và một nữ ca sĩ trẻ cùng đứa con gái đang ở nhà anh.
- Chị ta là người tản cư, - ông trưởng ga nói.
Nikôlai im lặng nhìn ra ngoài cửa kính, nơi những hành khách mặc áo bông, đi ủng dạ, tay cầm ấm nước, đang chạy. Anh thấy chóng mặt.
- Vâng, - ông trưởng ga nói. - Cụ nhà ta là người thật tốt bụng. Thế mà cụ chết đi không kịp gặp con trai.
- Bao giờ lại có tàu ra, thưa bác ? - Nikôlai hỏi.
- Năm giờ sáng mai, - ông lão nói, rồi im lặng một lát và nói tiếp. - Anh lại đàng tôi chơi. Bà lão nhà tôi sẽ pha trà, làm cơm anh ăn. Anh không phải về nhà nữa đâu.
- Cảm ơn bác, - Nikôlai trả lời và bước ra.
Ông trưởng ga nhìn theo, lắc đầu.
Nikôlai đi qua tỉnh lỵ về bờ sông. Phía trên là một bầu trời xanh xám. Tuyết lơ thơ, bay chênh chếch giữa trời và đất. Mấy con quạ bước đi bước lại trên còn đường phân rác bẩn thỉu. Trời sẩm tối. Gió thổi từ bên kia bờ sông, từ những cánh rừng, làm anh chảy nước mắt.
“Làm sao được ! Nikôlai nói. - Chậm mất rồi ! Và giờ đây cái tỉnh lỵ này, cả con sông và ngôi nhà - mọi thứ đối với ta gần như xa lạ !”
Anh ngoảnh nhìn sườn đồi bên kia thành phố. Ở đó hiện lên lờ mờ ngôi nhà trong khu vườn tuyết phủ. Từ ống khói tỏa ra, khói bị gió cuốn về cánh rừng bạch dương.
Nikôlai thong thả bước về phía nhà mình. Anh định không vào nhà mà chỉ đi ngang thôi, cũng có thể, rẽ vào vườn đứng một lát trong cái lầu cũ kỹ. Thật khó chịu khi nghĩ rằng những người thờ ơ xa lạ đang ở trong ngôi nhà của cha anh. Tốt hơn là chẳng nhìn thấy gì hết để khỏi phải đau lòng, cứ đi đi và lãng quên dĩ vãng.
“Ờ, - Nikôlai nghĩ bụng, - con người mỗi ngày một trưởng thành, và nhìn sự vật chung quanh một cách nghiêm khắc hơn”.
Nikôlai về đến nhà khi trời tối. Anh nhẹ nhàng mở cửa vào vườn, nhưng nó vẫn kêu ken két. Mảnh vườn như giật mình. Tuyết đọng trên cành rơi xào xạc. Anh nhìn quanh. Trên con đường nhỏ dẫn tới phong đình, tuyết đã được dọn sạch. Nikôlai vào trong lầu, đặt hai tay lên cái lan can cũ kỹ. Đằng xa, bên kia rừng, bầu trời hồng lên mờ nhạt : có lẽ trăng đã lên sau những đám mây. Nikôlai cất mũ, lấy tay vuốt tóc. Chung quanh yên lặng, chỉ ở dưới chân đồi, mấy người đàn bà xách những chiếc xô rỗng kêu loảng xoảng đi đến lỗ băng lấy nước.
Anh chống cùi tay lên lan can nói khẽ :
- Có thể nào lại như thế ?
Có ai đó nhè nhẹ chạm vào vai anh. Nikôlai ngoảnh lại. Đằng sau anh là một thiếu phụ trẻ, có khuôn mặt xanh xao và nghiêm nghị, đầu trùm khăn len. Thiếu phụ nhìn anh bằng đôi mắt sâu thẳm và chăm chú. Trên mi mắt và má nàng những bông tuyết tan dần. Có lẽ đó là tuyết trên cành rơi xuống.
- Anh đội mũ vào kẻo cảm lạnh đấy ! - Thiếu phụ nói khẽ - Mời anh vào nhà đi. Không nên đứng ở đây.
Nikôlai im lặng. Thiếu phụ nắm lấy tay áo của anh và dẫn anh theo con đường nhỏ đã dọn sạch. Đến bên thềm Nikôlai dừng lại. Xúc động làm anh nghẹn ngào, không sao thở được. Thiếu phụ vẫn nói khe khẽ :
- Không sao, xin anh đừng ngại vì chuyện tôi ở đây. Cảm giác đó sẽ qua ngay thôi.
Nàng giậm chân để rũ tuyết bám vào giày. Tức khắc quả chuông trong phòng mắt áo reo lên lanh lảnh đáp lại. Nikôlai thở dài thực mạnh, lấy hơi.
Anh bước vào nhà, vẻ bối rối, lẩm bẩm điều gì. Ở phòng ngoài, mới cởi áo choàng anh đã ngửi thấy mùi khói bạch dương thoang thoảng và nhìn thấy con mèo Ackhip. Nó ngồi ngáp dài trên đi-văng. Một cô bé tóc bím đứng bên đi-văng và nhìn anh bằng cặp mắt sung sướng, nhưng không phải nhìn mặt anh mà nhìn mấy viền vàng trên tay áo anh.
- Vào đây, anh ! - Tachiana nói và dẫn anh vào bếp.
Trong bếp có bình nước giếng lạnh và treo một chiếc khăn vải lanh quen thuộc thêu hình những chiếc lá sồi.
Tachiana trở ra. Đứa con gái mang xà phòng cho Nikôlai và nhìn anh cởi áo, rửa mặt. Nỗi bối rối trong lòng anh vẫn chưa tan.
- Mẹ cháu làm nghề gì vậy ? - Anh hỏi con bé và đỏ ửng mặt. Anh hỏi câu đó cho có hỏi mà thôi.
- Mẹ cháu tưởng mẹ cháu là người lớn. - Con bé thì thầm với một vẻ bí ẩn. - Nhưng mẹ cháu chẳng phải là người lớn tí nào. Mẹ cháu còn xoàng hơn cả cháu nữa kia.
- Tại sao vậy ? - anh hỏi.
Nhưng con bé không trả lời, nó cười, và chạy ra ngoài.
Suốt buổi tối, anh không sao xua đuổi được cái cảm giác kỳ lạ là đang sống trong giấc mộng nhẹ nhàng mà sâu lắng. Mọi vật trong nhà xếp đặt đúng theo ý anh muốn. Vẫn những bản nhạc ấy trên dương cầm, vẫn những cây nến hình xoắn ốc đang cháy, nổ tí tách và chiếu sáng phòng làm việc của cha anh. Cả những bức thư anh gửi từ bệnh viện về cũng nằm trên bàn, dưới chiếc địa bàn cũ mà ngày trước ông cụ vẫn thường dùng chặn lên thư.
Uống trà xong, Tachiana dẫn Nikôlai ra sau cánh rừng thăm mộ cha anh. Mặt trăng mờ mờ đã lên cao. Những cây bạch dương tỏa sáng yếu ớt trong ánh trăng ngả bóng nhẹ xuống tuyết.
Đêm đã khuya, Tachiana ngồi trước dương cầm, nhẹ nhàng lựa phím đàn, rồi ngoảnh lại nhìn Nikôlai và nói:
- Tôi cứ có cảm giác là tôi đã gặp anh ở đâu rồi.
- Vâng, cũng có lẽ, - anh đáp.
Nikôlai nhìn thiếu phụ. Ánh nến ở bên cạnh soi sáng nửa khuôn mặt nàng. Anh đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng rồi dừng lại.
- Không, tôi không nhớ ra được ! - Anh nói giọng trầm trầm.
Tachiana ngoảnh lại hốt hoảng nhìn Nikôlai nhưng không nói gì hết.
Nàng đã sửa soạn chỗ ngủ cho Nikôlai trên chiếc đi-văng trong phòng làm việc, nhưng anh không sao chợp mắt được. Mỗi phút trong ngôi nhà này đối với anh thực sự quý báu và anh không muốn bỏ mất phút nào. Anh nằm lắng nghe bước chân rón rén của con mèo Ackhip, tiếng đồng hồ tích tắc, tiếng thì thào của Tachiana với người vú già sau cánh cửa đóng. Rồi những giọng nói im bặt, người vú già đã đi, những vệt sáng ở dưới cánh cửa vẫn không tắt. Anh nghe thấy các trang giấy loạt soạt : chắc Tachiana còn đọc sách. Anh đoán nàng thức cốt để gọi anh dậy cho kịp tàu. Anh muốn nói với nàng rằng anh cũng không ngủ, nhưng anh không dám gọi.
Bốn giờ sáng, Tachiana khe khẽ mở cửa và gọi Nikôlai. Anh cựa mình.
- Anh dậy đi thôi, đến giờ rồi, - nàng nói. - Tôi rất tiếc phải đánh thức anh.
Tachiana tiễn anh ra ga khi thành phố đang yên giấc. Sau hồi chuông thứ hai họ từ giã nhau. Tachiana đưa cả hai tay cho Nikôlai và nói :
- Anh nhớ viết thư nhé ! Giờ đây chúng ta như là người thân. Phải không anh ?
Nikôlai không trả lời, anh chỉ gật đầu.
Mấy hôm sau, Tachiana nhận được một bức thư của Nikôlai viết ở dọc đường.
“Tôi đã nhớ ra chúng ta gặp nhau ở đâu, - anh viết, - nhưng tôi không muốn nói với chị khi còn ở nhà. Chị có nhớ Krưm năm hăm bảy không ? Mùa thu. Những cây tiêu huyền cổ thụ ở công viên Livađia. Trời u ám, biển nhợt nhạt. Tôi đi theo con đường nhỏ tới Orêanđa. Trên chiếc ghế dài bên đường có một thiếu nữ đang ngồi. Cô ta chừng mười sáu tuổi. Trông thấy tôi, cô ta đứng dậy và đi về phía tôi. Khi chúng tôi đi ngang nhau, tôi liếc nhìn cô. Cô ta đi qua tôi rất nhanh, nhẹ nhàng, tay cầm một cuốn sách mở rộng. Tôi dừng lại, nhìn theo cô rất lâu. Thiếu nữ đó là chị. Tôi không thể nhầm được. Tôi nhìn theo chị và cảm thấy rằng có một người con gái vừa đi qua bên cạnh tôi, người đó có thể làm tan vỡ cả đời tôi mà cũng có thể đem lại hạnh phúc cho tôi. Tôi hiểu rằng mình có thể yêu người con gái ấy đến quên cả thân mình. Lúc đó tôi đã biết rằng phải tìm được chị dù phải trả bằng giá nào. Tôi nghĩ vậy, nhưng vẫn đứng lì tại chỗ. Vì sao - tôi chẳng biết. Từ ngày ấy tôi yêu Krưm và con đường nhỏ, nơi tôi đã gặp chị trong giây lát và mất chị vĩnh viễn. Nhưng cuộc đời đã thương tôi và tôi lại được gặp chị. Nếu mọi việc ổn thỏa và chị cần đến cuộc đời tôi, thì tất nhiên nó sẽ là của chị. À, tôi đã thấy bức thư của tôi bị bóc ra để trên bàn. Tôi đã hiểu tất cả và chỉ biết cảm ơn chị từ nơi xa này”.
Tachiana đặt lá thư xuống, đôi mắt mơ màng nhìn qua cửa sổ ra mảnh vườn tuyết phủ, đoạn thốt lên :
- Trời, mình có ở Krưm bao giờ đâu ? Chưa bao giờ ! Nhưng lúc này cái đó có gì là quan trọng ? Và để cho anh ấy tuyệt vọng làm gì ? Và cả mình nữa !
Nàng cười, đưa tay lên che mắt. Ngoài cửa sổ ánh tà dương mờ nhạt vẫn tỏa sáng, mãi không sao tắt được.
1943
Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2017
El Lute
El Lute (Boney M), một bài hát về người tù oan sai nổi tiếng.
El Lute tên thật là Eleuterio Sánchez Rodríguez, sinh năm 1942, từng được coi là tên tội phạm nguy hiểm nhất của Tây-ban-nha. Là một nhân vật đầy huyền thoại, sống ngoài vòng pháp luật, trốn tù nhiều lần sau khi bị kêu án 30 năm về tội giết người, lúc tuổi mới 23. Trong khi ngồi tù, ông học và lấy được bằng luật, trở thành một nhà văn, tiếp tục phản kháng sự vô tội của mình. Ông được ân xá và tha bổng ngày 20/6/1981, lúc 39 tuổi. Chuyện đời El Lute được dựng thành phim Tây-ban-nha El Lute: Camina O Revienta ( El Lute: Run for Your Life) và cuộc đời ông được viết thành bản nhạc nối tiếng “El Lute” của ban nhạc huyền thoại BONEY M. Nhờ bộ phim và bản nhạc đó mà vụ án oan, sai của El Lute đã được cả cộng đồng thế giới biết đến và gây xúc động mạnh mẽ trong những năm 70, 80 của thế kỷ trước.
Bài hát có giai điệu chậm, buồn và sâu lắng, khác hẳn những bài hát khác của BONEY M có tình tiết nhanh, sôi động. Nếu hiểu lời bài hát thì khi nghe có thể thấy nghẹ ngào về số phận một con người.
Có thể nói El Lute là bài hát hay nhất trong số những bài hát nổi tiếng của BONEY M. Ngay từ những năm đầu 1980, mình đã rất thích bài này và nghe đi, nghe lại không thấy chán vì giai điệu của nó.
Lời dịch bài hát EL Lute:
Đây là câu chuyện về El Lute
Một người được sinh ra để bị săn đuổi như một con thú
Bởi vì anh ta nghèo
Nhưng anh ta từ chối chấp nhận định mệnh của mình
Và hôm nay danh dự của anh ấy đã được phục hồi
Anh ấy mới chỉ mười chín tuổi
Và anh ấy bị kết án tử
Vì một chuyện mà ai đó khác đã làm
Và đổ tội cho El Lute
Rồi họ thay đổi thành án chung thân
Và thế là anh ấy có thể trốn thoát
Từ lúc đó họ săn đuổi anh ấy
Và lùng sục anh ấy suốt đêm ngày
Khắp cả Tây Ban Nha
Nhưng cuộc tìm kiếm không ăn thua gì với El Lute
Anh ấy chỉ thấy mặt tối của cuộc đời
Người mà họ gọi là El Lute
Và anh ấy muốn một gia đình, giống như bạn, như tôi
Trong một đất nước mà nơi đâu đều cũng được tự do
Vì thế anh ta tự dạy mình cách đọc và viết
Điều đó chẳng giúp gì cho El Lute
Anh ấy là người đã dám trốn thoát trong đêm
Họ phải tìm cho ra El Lute
Danh tiếng của anh ấy sớm
Lan tỏa như ngọn lửa hoang dại khắp miền đất nước
Với giá treo thưởng cho cái đầu của anh ấy
Mọi người vẫn cho anh ấy bánh mì
Và họ giúp đỡ anh ấy
Vì họ biết anh ấy đúng (vô tội)
Và cuộc chiến của anh ấy chính là cuộc chiến của họ
Không ai cho anh ấy một cơ hội
Ở Tây Ban Nha vào những ngày đó
Trên những bức tường, mọi nơi họ đều dán lên
Hình ảnh gương mặt của El Lute
Và anh ấy đánh cướng bất cứ nơi nào có thể, giống như Robin Hood khi xưa
Cuối cùng họ cũng bắt được anh ấy và
Có vẻ như là kết thúc rồi
Nhưng họ bắt El Lute cũng vô ích thôi
Vì một sự thay đổi đến với Tây Ban Nha
Và El Lute
Anh ấy chỉ thấy mặt tối của cuộc đời
Người mà họ gọi là El Lute
Và anh ấy muốn một gia đình, giống như bạn, như tôi
Trong một đất nước mà nơi đâu đều cũng được tự do
Và rồi tự do thật sự đến với đất nước anh ấy
Và cũng đến với El Lute nữa
Giờ thì anh ấy bước đi trong ánh sáng của một ngày mới rực rỡ
Người mà họ gọi là El Lute
https://m.youtube.com/watch?v=_FoVCBMkUw0
Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017
Bức tranh "Buổi sáng trong rừng thông"
BỐN GẤU THÀNH BA GẤU
Ivan Shishkin là một trong những đại diện xuất sắc nhất của trường phái hiện thực Nga.
Bức "Buổi sáng trong rừng thông" là một tác phẩm tiêu biểu của Shishkin. Ông vẽ bức này trên đảo Gorodomlya, trên hồ Seliger ở tỉnh Tver.
Điều thú vị là Shishkin không phải là tác giả duy nhất của bức tranh này.
Tất cả con gấu trong tranh là do họa sĩ Konstantin Savitsky vẽ.
Đầu tiên, bức tranh có 2 chữ ký. Nhưng sau đó chính Savitsky đã yêu cầu xóa chữ ký của mình.
Trong dân gian, vẫn gọi đây là bức "Ba con gấu"-«Три медведя».
Mặc dù trong tranh có vẽ Bốn con gấu (thế mới tài )
Bức tranh vẽ năm 1889, hiện trưng bày ở Bảo tàng T'retyakov, Moskva.
Điều kỳ lạ nữa liên quan đến hoạ sỹ vẽ bức tranh trên: Một lần, trong phòng thí nghiệm của một số nhà sinh vật trẻ, có đặt một cốc sữa tươi trước bản sao bức sơn dầu nổi tiếng của Ivan Shishkin “Khu rừng Sồi”. Họ để cốc sữa ở đó… rồi quên không mang đi. Vào ngày hôm sau, khi họ nếm lại cốc sữa, và kinh ngạc nhận thấy cốc sữa hoàng toàn không bị chua đi! Vậy là ngay sau đó, các nhà sinh vật trẻ quyết định thực hiện một thí nghiệm: Họ treo một số những bản sao tranh sơn dầu của các họa sĩ nổi tiếng nhất trên thế giới, và đặt trước mỗi bức tranh đó một cốc sữa, rồi chờ. Sau đó, theo như các phân tích hóa sinh thì kết quả là: Các cốc sữa đặt trước các bức tranh sơn dầu theo phong cách trừu tượng và siêu thực đã nhanh chóng bị ôi chua như: tranh của Salvatore Dali, Vasily Kandinsky, Pablo Picasso, và đặc biệt là bức sơn dầu nổi tiếng “Hình vuông màu đen” của Kazimir Malevich. Hơn thế nữa, các cốc sữa bị ôi chua rất nhanh chóng chỉ trong một vài giờ. Một kết quả trung bình cho thấy ở cốc sữa phía trước các bức sơn dầu của Isaac Levitan, Ivan Aivazovsky. Kết quả nhận được lại trái lại với những cốc sữa đặt trước các bức tranh của Ivan Shishkin như: “Khu rừng Sồi".
Các nhà khoa học sau đó đã đi đến kết luận: Các bức tranh sơn dầu đã toát ra một chút xung năng lượng – năng lượng này đã tác động đến sữa. Nếu năng lượng đó là loại có điện tích, thì sữa sẽ không bị ôi chua. Qua đó, xung năng lượng toát ra từ những bức tranh sẽ có tác động trực tiếp đến con người, điều này đã được chứng minh là, khi bước vào các phòng trưng bày nghệ thuật hoặc bảo tàng, khi ta đứng chiêm ngưỡng các bức sơn dầu của các họa sĩ nổi tiếng, ta thường có cảm giác rất thư thái, dễ chịu… Điều này đặc biệt đúng đối với bức tranh ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, nnó thấm vào niềm vui cuộc sống và có cảm giác thực sự tích cực. .
Điều này chắc chắn là thích hợp nhất đối với họa sĩ Ivan Shishkin.
Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016
Bức tượng cô thôn nữ bên bình nước bị vỡ
" Bình nước rơi vỡ rồi, thôn nữ lặng người bên ghềnh đá ... "
Trong công viên Ekaterina của cố đô Sain Petersburg có một bức tượng đồng đặt trên khối đá cao. Bức tượng một người thôn nữ ngồi lặng người, nét mặt buồn bã nhìn chiếc bình vỡ bên cạnh mình. Tác giả bức tượng đó là nhà điêu khắc đầu thế kỷ XIX P.Xokolov. Một dòng nước nhỏ chảy ra không bao giờ cạn từ miệng chiếc bình khiến cảnh tượng thật sinh động : Một cô thôn nữ đem bình ra suối lấy nước. Nhưng không may nàng làm vỡ chiếc bình. Thật tiếc vì chắc là chiếc bình quý đã gắn bó với mình bấy lâu, cô thôn nữ buồn lặng ngồi ngẩn ngơ, tay chống cằm, nét mặt buồn thảm. Vì sao nàng làm vỡ chiếc bình ? Ở đây tác giả bỏ lửng câu trả lời để du khách thả trí tưởng tượng hình dung ra, có thể đơn giản là do bất cẩn, hoặc giật mình vì tiếng khuấy động không gian yên tĩnh trong rừng của một con thú đâu đây. Và cũng có thể do chợt nhớ đến mối tình dang dở của mình ...
Bức tượng cũng làm cho công viên thêm vẻ sang trọng và trữ tình. Tác giả rất khéo tạo bức tượng thành một đài phun nước nhỏ, vì dòng nước chảy ra từ miệng bình không bao giờ cạn. Thật là độc đáo.
Dưới đây là những bức ảnh đẹp về bức tượng : фонтан " девушка с кувшином "(молочница)
Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016
Lời nguyền của các bản giao hưởng số 9 định mệnh
https://youtu.be/kbJcQYVtZMo
Nhà soạn nhạc và hội chứng bản giao hưởng số 9
Người ta đã thống kê như thế này: cả Beethoven, Schubert, Dvorak và Vaughan Williams cũng như nhiều nhà soạn nhạc khác đều qua đời sau khi sáng tác bản giao hưởng số 9.
Các nhà âm nhạc học cũng đã có nhiều điều để kể về hội chứng này: Mahler, vì quá mê tín với số 9 nghiệt ngã nên đã cố gắng hoàn thành thật nhanh bản giao hưởng số 10. Nhưng dường như không thể thoát khỏi định mệnh, ông đã mất ngay khi đó.
Bruckner, mặc dù đã cố gắng tránh "lời nguyền về con số 9" bằng cách đánh số hai bản giao hưởng đầu tiên của mình là 00 và 0, nhưng ông cũng đã qua đời ngay trong khi đang viết bản giao hưởng thứ 9 của mình. Còn Sibelius thì sao? Có vẻ như ông đã rất sáng suốt khi dừng lại ở giao hưởng số 8 (trên thực tế thì chỉ công bố chính thức 7 bản) và ông đã sống thêm được tới 33 năm.
(Nguồn: Tia sáng)
Mười bản giao hưởng hay nhất mọi thời đại.
Các nhà soạn nhạc người Đức và Áo giành được 8/10 vị trí cao nhất trong danh sách những bản giao hưởng hay nhất mọi thời đại do tạp chí âm nhạc của BBC bình chọn.
Vừa qua, tạp chí âm nhạc của BBC đã khảo sát 151 nhạc trưởng trên khắp thế giới để chọn ra 20 bản giao hưởng hay nhất mọi thời đại.
Kết quả, bản giao hưởng số 3 mang tên Eroica của nhà soạn nhạc vĩ đại Beethoven được các nhạc trưởng nổi tiếng nhất trên thế giới bầu chọn là bản giao hưởng hay nhất mọi thời đại.
Chân dung của nhà soạn nhạc vĩ đại Beethoven. (Nguồn: The Guardian)
Đứng thứ hai trong danh sách là Bản giao hưởng số 9 của Beethoven với tựa đề Ode to Joy. Bản giao hưởng cuối cùng của nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Mozart The Jupiter đứng ở vị trí thứ ba. Tiếp đó, nhà soạn nhạc Mahler (cũng người Áo) chiếm giữ hai vị trí tiếp theo (thứ 4 và thứ 5) với những bản giao hưởng số 9 và số 2 của ông.
Gây bất ngờ nhất, bản giao hưởng số 5 nổi tiếng của Beethoven đã không được lọt vào top 10 mà nằm ở vị trí thứ 11.
Biên tập viên Oliver Condy của tạp chí âm nhạc BBC cho biết, ông không thấy ngạc nhiên khi Beethoven đã có hai ca khúc dẫn đầu trong danh sách và cho rằng kết quả này là "minh chứng cho khả năng thiên phú của Beethoven.”
Nhạc trưởng người Anh Jonathan Nott, giám đốc âm nhạc của Dàn nhạc Giao hưởng Tokyo, thì chia sẻ: “Eroica vượt qua mọi ranh giới quốc gia, lãnh thổ. Bản giao hưởng này viết về chính những con người chúng ta – về những cuộc đấu tranh, thách thức và chiến thắng của chính con người. Sau này, những nhà soạn nhạc thường quá tập trung vào những khó khăn và đau khổ. Nhưng khi nghe nhạc của Beethoven, bạn có thể cảm nhận được sức mạnh và niềm vui của sự sống”.
Eroica được viết năm 1803. Ban đầu, Beethoven viết bản giao hưởng này với mục đích ca ngợi Napoleon. Tuy nhiên, Beethoven thay đổi quyết định sau khi biết rằng Napoleon tự tuyên bố là Hoàng đế. Nhà soạn nhạc người Đức bất bình và xóa bỏ tên ông ta trong bản thảo mạnh tới mức rách cả bản thảo.
Danh sách top 10 còn có sự góp mặt của những tác phẩm như: Bản giao hưởng số 4 của Brahms (vị trí thứ 6); bản giao hưởng Fantastique của Berlioz (vị trí thứ 7); bản giao hưởng thứ 1 của Brahms (vị trí thứ 8); bản giao hưởng thứ 6 của Tchaikovsky (vị trí thứ 9); và bản giao hưởng số 3 của Mahler (vị trí thứ 10).
Tác phẩm có niên đại gần đây nhất trong danh sách là bản giao hưởng số 5 của nhà soạn nhạc Shostakovich đứng ở vị trí thứ 17. Tác phẩm này được hoàn thành vào năm 1937, thời điểm mà ông gặp cơn khủng hoảng cá nhân sau khi vở opera Quý bà Macbeth của quận Mtsensk của ông bị phản đối.
Top 10 bản giao hưởng hay nhất mọi thời đại
1. Beethoven với Bản giao hưởng số 3 (hoàn thành năm 1803)
2. Beethoven với Bản giao hưởng số 9 (hoàn thành năm 1824)
3. Mozart với Bản giao hưởng số 41 (hoàn thành năm 1788)
4. Mahler với Bản giao hưởng số 9 (hoàn thành năm 1909)
5. Mahler với Bản giao hưởng số 2 (hoàn thành năm 1894, được hoàn thiện lại vào năm 1903)
6. Brahms với Bản giao hưởng số 4 (hoàn thành năm 1885)
7. Berlioz với bản giao hưởng Fantastique (hoàn thành năm 1830)
8. Brahms với Bản giao hưởng số 1 (hoàn thành năm 1876)
9. Tchaikovsky với Bản giao hưởng số 6 (hoàn thành năm 1893)
10. Mahler với Bản giao hưởng số 3 (hoàn thành năm 1896)















